Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014


ĐÀN NAM GIAO CỦA VƯƠNG TRIỀU TÂY SƠN
                                                                TS Lê Đình Phụng
                                                                 ( Viện KCH)
               Đàn Nam Giao là một loại hình kiến trúc đặc biệt thể hiện đại diện quyền lựccủa mỗi vương triều gắn liền với vùng đất kinh đô. Lịch sử kiến trúc đàn Nam Giao có mặt sớm  tại Trung Quốc. Nguồn gốc loại hình kiến trúc này theo lễ ký đời Hán cho biết:  đầu tiên đây là địa điểm đượầýcc vị vua những triều đại  chọn để tiến hành nghi lễ cúng tế tại phía nam kinh thành “…tương ứng với độ cao của trời, tương ứng của đất, họ tế đất( nơi thấp)…lợi dụng độ cao các đỉnh núi, họ leo lên  núi báo với thượng đế về một triều đại thịnh trị ”. NGười đại diện đứng ra cúng tế là các vị vua đươc coi là “ CON TRỜI” thay mặt  trời để cai quản nhân dân. “Sau khi lễ vật dâng lên thượng đế, mưa gió sẽ thuận hoà, khí hậu thuận lợi, vì thế thiên tử phải đứng quay mặt về hướng nam và nghi lẽ sẽ loan toả khắp bầu trời”.  Nghi thức tế này được gọi là tế Giao. Các triều đại sau này thay vì cho việc chọn các ngọn núiỉơ phía nam kinh thành làm nơi  tế, họ cho đắp một nơi làm Đàn tế để tổ chức tế lễ gọi là Viên Khâu.Theo sách Chu lễ: Viên Khâu gọi là Nam Giao. Việc tế Nam giao này được các triều đại duy trỠ khẳng định vị thế Thiên Tử  triều đại của mình TRước trời đất. .Đến thời nhà Minh, theo Minh  sử cho biết:Năm 1368 Hoàng đế Chu Nguyên Chương ra lệnh cho xây một đàn tế hình tròn, một đàn tế hình vuông để tế trời đất ở phía nam kinh đô Nam kinh, sau dó ông ra lệnh cho xây bao quanh đàn tế gọi là Đại tế điện( 1368- 1398), nơi này chỉ dùng để tế trời .Năm 1421 nhà Minh chuyển đô vê Bắc Kinh, đàn Nam Giao tiếp tục được chuyển về đây và những buổi tế tại đàn Nam Giao kéo dài đến tận đầu thế kỷ XX, khi mà chế độ quân chủ phong kiến Trung Hoa sụp đổ. Lễ Nam Giao cứ 3 năm 1 lần làm đại lễ; hai năm một lần làm trung lễ, hàng năm làm tiểu lễ”.
Tại Việt Nam theo truyền thuyết, tục tế trời đất có từ thời các vua Hùng. Vào thế kỷ X khi giành được độc lập,  tài liệu ghi chép cho biết về  việc các triều đại  phong kiến  tổ chức  nghi lễ cúng tế  trời đất một nghi thức cúng tế như  tế Nam Giao. Đời Lý Anh Tông, năm Thiệu Minh thứ 15 ( 1153) đắp đàn Viên Khâu tại Thăng Long làm nơi tế trời đất. Đàn Viên Khâu là đàn giống như cái gò tròn để tế trời. Nhà Trần tiếp nối tế Nam Giao tại đàn Viên Khâu như nhà LÝ. Đời nhà Hồ năm 1403 “ tháng 8 đắp đàn Giao ở Đốn Sơn, làm lễ tế Giao, đại xá cho tội nhân.”. Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, nhà Lê lên ngôi, việc tế Nam giao tiếp tục được phục hội.  Năm 1462. Lê Thánh Tông lại phục dựng tổ chức tế Giao ở Thăng Long.” Từ đấy trở đi, đầu xuân lễ tế Giao, lệ thường hàng năm”. Năm Quang Hưng thứ nhất (1578) nhà Mạc cướp ngôi lập đàn tế Nam giao tại Thăng Long.THẾ KỶ XVI, nhà Lê dần phục hưng và lại tổ chức lập đàn Nam Giao ở bên ngoài cửa luỹ Vạn Lai ( Thọ Xuân – Thanh Hoá).. Sau này khi nhà Lê Trung Hưng về lại Thăng Long “năm Cảnh Trị thứ nhát ( 1663) làm điện Nam Giao.Trước kia lễ tế Giao, mỗi năm đắp nền ở chính giữa để tế trời đất. Nền dài 15 thước, cao 5 tấc, hai bên tả hữu thờ các vị sao, đều đắp nền dài 16 thước, cao 3 tấc bốn bên trồng cây đăng trước mở 3 cửa. Đến bấy giờ mới sai làm điện, giữ là điện Chiêu sự, cột bốn góc làm bằng đá, nền và sân trong và ngoài đều lát đá, rường, xà, rui, hoành dều sơn son thiếp vàng, có hai dãy hành lang tả hữu, bên ngoài là chỗ thay áo; đằng trước có 3 tầng cửa. Quy mô chế thức rực rỡ, mới mẻ. Sai triều thần là bọn Hồ Sĩ Dương làm văn khắc bia để ghi việc ấy”. Về nghi thức tổ chức tế lễ, theo Lê Quý Đôn “ Lễ nghi tế Giao, tế Miếu về hai triều đại nhà Lý nhà Trần, không thể tra khảo được; lễ nghi Giao miếu dùng ở bản triều ( triều nhà Lê) ngày nay đươc phỏng theo hội điển nhà Đại Minh.” Lễ tế Nam Giao được tổ chức suốt triều đại nhà Lê hơn 300 năm vẫn theo không thay đổi.
Như vậy có thể nói, lễ tế Nam giao là một lễ trọng của Quốc Gia, đại diện cho một vương triều trong lịch sử. Về  phong tục đàn Nam Giao và lễ tế Nam Giao là một phong tục truyền thống trong văn hóa Việt Nam, có mặt khá sớm và duy trì theo suốt chiều dài lịch sử . Về kiến trúc xây dựng đàn Nam Giao khởi nguồn từ việc đắp đàn làm nơi tế trời đất- đàn lộ thiên- đến thời Lê, đàn Nam Giao đã là một công trình kiến trúc, có quy mô lớn, được xây dựng quy củ, theo thiết chế của triều đình. Đây cũng là một xu hướng chung của loại hình kiến trúc này trong khu vực, bởi ở Trung Quốc thời nhà Minh đời Hồng Vũ cũng dã xây dựng và lợp nóc đàn Nam Giao.Về nghi lễ, đến thời Lê, nghi lễ tỏ chức tế đã khá hoàn chỉnh với những quy định chi tiết, trang trọng. Về chủ tế là nhà vua( thiên tử), người thay mặt trời quản lý đất nước. Đàn Nam Giao là một kiến trúc ẩn chứa một phong tục có thể coi là gương mặt của một triều đình trong lịch sử.
 Chính vì thế nhà Tây Sơn sau khi lên ngôi đã chọn một địa điểm đáp ứng đủ những yêu cầu của truyền thống để xây dựng một đàn Nam Giao làm nơi tế lế trời đất cho vương triều mình..Tài liệu lịch sử cho biết cùng với việc xưng vương, xây đắp thành Hoàng Đế làm kinh đô thì  trong thành Hoàng Đế “còn 3 góc phía đông, phía tây – nam và tây – bắc đều có đắp núi đất, vì đắp trong lúc thành bị bủa vây; phía tây thành có có đắp con đê Đỉnh Nhĩ là để phòng vệ nước lụt; phía tây – nam có đàn Nam Giao để tế trời đất”Tại đàn Nam Giao, hàng năm vua Tây Sơn thay mặt thần dân cả nước, làm lễ tế cáo trời đất với tư cách đế vương khẳng định vị thế của vương triều mình với tư cách  chính thống thay mặt trời cai quản đất nước theo xu thế lịch sử chung trong truyền thống văn hóa dân tộc.
Kết quả khảo sát khi  nghiờn cứu thành Hoàng Đế ( Nhõn Hậu – An Nhơn) cho thấy  địa điểm đàn Nam Giao hiện nay nằm ở góc tây nam thành ngoại sát điểm uốn của tường thành nam và tây. Đây là quả đồi cao 37,5m ( so với mực nước biển) đỉnh đồi bằng phẳng, hình tương đối tròn, đường kính trung bình 36,5m, xung qanh xoải xuôi, dưới chân là những khoảng đất rộng phẳng. Đây là quả đồi có vị trí cao nhất trong thành Hoàng Đế, có hình dáng và vị thế đáp ứng được yêu cầu là một nơi xây dựng đàn Nam Giao của một triều đại, đại diện cho quốc gia độc lập. Để tìm hiều về địa điểm này, năm 2007 cuộc khai quật khảo cổ học được tiến hành nhằm tìm kiếm tư liệu về đàn Nam Giao của vương triều Tây Sơn trong lịch sử.
 H khai qut  chính được mở tại chính giữa đỉnh gũ, diện tích 110m2 ( 11m x 10m). Bóc lớp mặt đất nền dày từ 0,25m – 0,3m, đất màu đỏ nhạt, đầm lèn chặt,dấu vết mặt sàn nền đàn Nam Giao xuất lộ. Mặt đàn được lát gạch hình vuông kích thước 0,31m x0,31m, dày 2,5cm, màu vàng nhạt, độ cứng khá cao, tương tự như gạch lát nền tìm được tại hiên nền điện Bát Giác, hay trên mặt thuỷ hồ trong Tử Cấm Thành. Phần nền lát gạch này hầu hết bị vỡ nát, qua xử lý cho thấy gạch đươc lát trên nền đất đầm lèn phẳng, khá cứng, do không có vôi lát đệm như nền điện Bát Giác, nên khi sử dụng, gạch lát hầu như bị vỡ.Phía dưới là đất đồi sạn sỏi gốc liên kết nhau vững chắc. Ngoài việc sử dụng gạch lát nền đất nung, mặt nền dàn còn được sử dụng đá ong, dáu vết còn lại là mặt nền lát đá ong thành khối ô hình chữ nhật dài 1,7m rộng 1m, mặt khá phẳng. Nối theo là một con đường lát đá ong mặt rộng 1,5m từ sườn đàn phiá bắc đi lên. Đá ong được cắt thành từng viên, kích thước dài 0,52m – 0,7m, rộng 0,24m 0,26m, dày 0,21 - 0,23m, được lát phẳng. Đá ong là vật liệu xây dựng được sử dụng phổ biến trong các công trình kiến trúc thời Tây Sơn.
Dấu vết kiến trúc mặt Đàn Nam Giao
Để tìm hiểu cấu trúc đắp đàn Nam Giao, hố khai quật được mở 27,5m2(11 m x 2,5m) bên sườn đồi phía đông. Qua khai quật cho thấy, sườn đàn Nam Giao được kè gạch vỡ đá ong nhiều lớp đổ lộn xộn tạo nên lớp nền vững chắc, phiá trên đắp đất nền phẳng tạo nên mặt đàn. Kỹ thụât kè gạch này cũng thấy được sử dụng khi khai quật nền cung cũ trong Tử Cấm Thành. Chính giữa sườn đàn Nam Giao, về phía đông có lối đi lên xuống đươc xây bằng gạch, hai bên kè đá ong, gồm nhiều bậc cấp,  mặt bậc rộng 1,25m. So sánh vật liệu kiến trúc ở đây với vật liệu kiến trúc khai quật được tại Tử Cấm Thành ( thành Hoàng Đế) cho thấy các viên gạch lát nền có hình dáng, màu sắc và kích thước tương tự nhau. Đá ong được sử dụng nhiều, đây là vật liệu truyền thống được sử dụng rông rãi trong các kiến trúc của Tây Sơn trong thành Hoàng Đế. Dựa vào tư liệu vật chất tìm được, kết hợp với nguồn sử liệu ghi chép cho thấy đây chính là vị trí Đàn Nam giao nhà Tây Sơn được xây dựng cùng thời thành Hoàng Đế vào thế kỷ XVIII.
Dấu vết kiến trúc bậc dẫn lên Đàn Nam Giao
.Vết tích để lại cho thấy đàn Nam Giao thời Tây Sơn là một kiến trúc lộ thiên, chưa thấy dấu vết các công trình kiến trúc xây dựng liên quan.Do diện tích khai quật chưa rộng cho nên chưa nhận diện được tổng thể bình đồ  mặt bằng kiến trúc tại đây. Những dấu vết tìm được cho thấy khả năng đàn Nam giao nhà Tây sơn được xây theo truyền thống của Đàn Nam giao trước đó. Vị trí cao nhất là Viên Đàn hình tròn. Hai tầng dưới là hình vuông.  Hình thành mô thức đế vuông vức vững trãi, đình là hình tròn, xung quanh có sân lát gạch phẳng.  Đàn được xây dựng bằng vật liệu bền vững, gạch và đá ong. Có khả năng ở đây có các công trình kiến trúc liên quan được lợp ngói. Khảo sát xung quanh cho thấy ở đây có khá nhiều mảnh ngói thuộc thời Tây Sơn. Sự có mặt của đàn Nam Giao thời Tây Sơn là một tư liệu góp phần khẳng định tính chính thống của vương triều trong lịch sử Việt Nam.
 Từ đàn Nam Giao mở đầu tại thành Hoàng Đế do Nguyễn Nhạc xây dựng, khi Nguyễn Huệ lên ngôi, ông cũng chọn núi Bân ( Thừa Thiên – Huế) đắp đàn Nam Giao để tế trời đất. Sau này, khi Quang Toản ra bắc ông cũng cho “ đắp đàn tròn ở cửa Da Thị, xây đầm vuông ở Tây Hồ để hai kỳ hạ chí, đông chí chia ra cúng tế trời đất” làm nên truyền thống văn hoá nhà Tây Sơn  trong lịch sử dân tộc,  tiếp nối truyền thống văn hóa dân tộc tạo nên bản sắc văn hóa chung trong lịch sử.

 Đây là di tích có vị trí quan trọng trong tổng thể các di tích thành Hoàng Đế, khẳng định vị thế, tính chính thống của một vương triều. Chính vì thế việc quan tâm nghiên cứu, tôn tạo phục dựng lại di tích đó là việc làm cấp thiết  góp phần nâng cao giá trị lịch sử văn hóa của vương triều Tây Sơn, vào văn hóa Bình Định nói riêng cùng văn hóa dân tộc nói chung trong lịch sử ./.

MÔT VÀI TƯ LIỆU VỀ NGOẠI GIAO VIÊT NAM GHI CHÉP TRONG LỊCH SỬ:
NGOẠI GIAO CÁC VƯƠNG TRIỀU
Điều kiện lịch sử
- Năm 938 sau khi đánh quân  xâm lược Nam Hán thắng lợi, nước ta giành được độc lập. Đây là lần đầu tiên sau gần 1000 năm bắc thuộc đô hộ, nước ta có quyền độc lập tự chủ. Nước ta giành được độc lập trong hoàn cảnh phía bắc là quốc gia phong kiến khổng lồ Trung Hoa luôn tìm cách xâm lược lại nước ta; phía nam là vương quốc cổ Champa đã giành được độc lập từ cuối thế kỷ II đã xây dựng nên một nền văn hóa riêng biệt. Để giữ nền độc lập và khẳng định nền độc lập của dân tộc nhà nước phải có chính quyền trung ương riêng, lãnh thổ riêng, tổ chức hành chính riêng quân đội riêng, nền tài chính riêng và nền ngoại giao độc lập. Ngoại giao là mặt trận quan trọng nhằm nâng vị thế độc lập của dân tộc, cũng như khẳng định nền độc lập của dân tộc mình.
Quan hệ ngoại giao về phía Bắc.
- Ngoại giao buổi đầu qua ghi chép Đại Việt sử ký toàn thư:
I .NHÀ NGÔ.
Năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, xây dựng vương triều độc lập.
Khẳng định sự độc lập dân tộc là năm 939 là “ xưng vương, lập Hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục.”
- Năm 954. Nam Tấn vương giữ ngôi sai sứ “ sang thỉnh mệnh vua Nam Hán là Lưu Xưởng. Xưởng cho vua làm Tính Hải quân tiết độ sứ kiêm đô hộ”
Đây được coi là sứ đoàn đầu tiên của nhà Ngô độc lập đi sứ sang nước ngoài
II NHÀ ĐINH
Lên ngôi năm 968. Đặt quốc hiệu: Đại Cồ Việt, dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Tôn hiệu là Đại Thắng minh Hoàng đế. Lập 5 hoàng hậu. Năm 970 đặt niên hiệu Thái Bình, sai sứ sang nhà Tống giao hảo.
Nhà Tống nghe vua xưng Đế hiệu sai người mang thư sang có ý khiển trách” cõi giao châu nhỏ bé lai xa xôi mãi cuối trời... Nhà ngươi chớ nên quay đi khác, gây cái lo lắng nhỏ cho ta....khiến ta phải dùng cái kế dứt tình mà kéo binh sang làm thịt nước nhà ngươi”.
Nhà Tống công nhận đây là nhà nước riêng
Sự nâng cấp của sứ thần các triều đại từ sang thỉnh mệnh đến sang giao hảo.
Năm 973 Nam Việt  Vương Liễn ( con cả Đinh Tiên Hoàng)  sang sứ  thăm nhà Tống
Năm 973 nhà Tống sai sứ sang phong cho vua làm Giao chỉ Quận Vương, con là Liễn làm Kiểm hiệu thái sư Tĩnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ
Lần đầu sứ Trung quốc sang nước Đại Cồ Việt với tư cách độc lập, Hoàng đế Đaiọ Cồ Việt được công nhận là Vương, con là Tiết độ sứ
Năm 975 sai Trịnh Tú ( người Châu Đại Hoàng) đem vàng lụa, sừng tê, ngà Voi sang nhà Tống. Cùng năm đó nhà Tống sai Hồng Lô Tự Khanh Cao Bảo Tự dẫn đầu bọn Vương Ngạn Phù đem chế sách sang gia phong cho Nam Việt vương Liễn làm Khai Phủ đồng nghi Tam Ty, Kiểm hiệu thái sư Giao Chỉ Quận Vương.
Về ngoại giao đây là lần đầu tiên quan chức Trung Hoa sang sứ và công nhận con là Giao chỉ Quận vương, có thể hiểu là ngầm công nhận Đinh Bộ Lĩnh là Hoàng đế
Trên cơ sở ngoại giao đó năm 976 thuyền buôn các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ. Như vậy từ ngoại giao đến ngoại thương đã xác lập quyền tự chủ đất nước.
Từ tín hiệu ngoại thương năm đó nhà Đinh sai Trần Nguyên Thái sang đáp lễ nhà Tống.
 Năm 977 sai sứ sang mừng Thái Tông nhà Tống lên ngôi ( tư cách quốc gia độc lập  sang mừng).
Về nguyên tắc, từ nhà Ngô đến nhà Đinh việc quan hệ ngoại giao đã mở rộng, nâng cấp với các triều đại Trung Hoa. Kết quả ngoại giao đã củng cố nền độc lập dân tộc và nâng tầm vị thế quốc gia trong buổi đầu. Một nhà nước có quốc hiệu, có Kinh đô, có quân đội, nền tài chính riêng và nền ngoại giao độc lập
-  Trong An Nam Chí Lược của Lê Tắc Viết năm 975, Liễn tiến cống vàng lụa, sừng tê, ngà voi, trà thơm. Ngày 7 -8 Thái tổ nhà Tống sắc chế, phong cha Liễn là Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương, thực ấp 1.000 hộ, sai Cao Bảo chư làm Quan cáo sứ( sứ thần đi tuyên phong). Năm 977 sai sứ sang mừng nhà Tống lên ngôi.
 Năm 980 nhà Tống lại sai sứ là Lư Tập sang Giao chỉ.
Như vậy bằng con đường ngoại giao nhà Đinh đã đặt nhà Tống vào sự đã rồi phải công nhận quyền được lập dân tộc, xưng đế, xây dựng quân đội , tài chính ngoại thương một cách hợp pháp và thực tế bằng con đường ngoại giao nhà Đinh đã làm được
Quan hệ ngoại giao về phía Nam:
Nhà nước cổ Champa thành lập vào cuối thế kỷ II ( 192). Sau khi giành độc lập và thống nhất các nhóm người phía nam đến thế kỷ V nhà nước Champa đã quản lý vùng đất khá rộng. Tài liệu khảo cổ cho biết có thể từ Quảng Bình tới Phú yên. Nhà nước Champa là quốc gia cổ độc lập, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa tôn giáo Ấn Độ và có mối quan hệ chặt chẽ với cư dân Việt, đặc biệt là vùng Nghệ An cũ( Trấn Nghệ An đến năm 1831 mới tách thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh). Theo  Việt điện U linh vào thế kỷ VI  cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan ở Nghệ An đã có sự phối hợp, giúp đỡ  của vương triều Champa.
Đầu thế kỷ X ( 938) khi người Việt giành được độc lập, mối quan hệ Việt Chăm có điều kiện phát triển. Hiện nay chưa có tài liệu ghi chép về ngoại giao của truieeuf đình Việt với Champa, nhưng sử cũ ghi lại:  năm 979 dưới triều Đinh Toàn, phò mã Ngô Nhật Khánh vốn là con cháu  Ngô Quyền, con rể Đinh Tiên Hoàng nhân triều chính rối ren đã chạy sạng Chiêm Thành dẫn theo hơn 1000 chiếc thuyền vào cướp kinh đô Hoa Lư nhưng bị bào đánh tan.
Sự có mặt của quân Chiêm Thành với số lượng lớn dưới sự dẫn đường của Ngô Nhật Khánh đã cho thấy, người Chăm hiểu về sự độc lập của người Việt, mặc dù chưa có ghi chép về quan hệ ngoại giao cấp nhà nước, nhưng mối quan hệ Việt – Chăm  đã khá khăng khít, mối quan hệ đó được thể hiện qua sự liên hệ của các thủ lĩnh vùng miền với nhau.
 NGOẠI GIAO THỜI TIỀN LÊ
1.Ngoại giao buổi đầu của Tiền Lê là mục đích tránh cuộc xâm lăng của nhà Tống và giữ nền độc lập dân tộc.
      Năm 980 sau hơn 40 năm độc lập, trải qua hai triều đại Ngô – Đinh,  nền độc lập dân tộc dần được xác định củng cố vững chắc. Mặc dù vậy, nền độc lập dân tộc luôn bị đe dọa, lợi dụng những bất đồng quyền lợi của các tập đoàn phong kiến, Trung quốc luôn rình rập mưu đặt ách đô hộ lần nữa. Năm 980 khi vệ vương Đinh Toàn còn nhỏ tuổi, chính sự nhà nước non trẻ rối ren, nhà Tống quyết xâm lược nước ta. Hầu Nhân Bảo dâng thư cho vua Tống nói “ An Nam quận vương cùng với con là Liễn bị giết, nước ấy sắp mất, có thể nhân lúc này đem một cánh quân sang lấy. Nếu bỏ lúc này không mưu tính, sợ mất cơ hội.”
Để tránh cuộc xâm lăng khi nhà nước còn non trẻ, bằng con đường ngoại giao, Lê Đại Hành đã sai sứ là Giang Cự Vọng, Vương Thiệu Tộ mang thư sang nhà Tống ý muốn hoãn binh.
Nhà Tống lộ rõ dã tâm” lại có ý chiếm lấy nước Việt ta´sai Trương Tông quyền sang đưa thư trả lời “ nên bảo cả mẹ con thân thuộc sang quy phụ”
Để bảo vệ nền độc lập dân tộc, khi quân nhà Tống ngấp nghé bờ cõi, Lê Đại Hành lên ngôi. Đổi niên hiệu là Thiên Phúc, cầm quân chống Tống chém chết tướng Hầu Nhân Bảo, bắt sống Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân phá tan âm mưu xâm lược.
2. Nền ngoại giao mở rộng và nâng vị thế độc lập dân tộc.
2.1 Ngoại giao về phương Nam.
 Sau chiến thắng quân Tống, năm 982 Lê Hoàn cử sứ đoàn đầu tiên xuống phía nam, mở rộng quan hệ với Champa. Sứ thần được cử đi là: từ Mục, Ngô Tử Canh.
Đáng tiếc, mặt trận ngoại giao phương Nam bị gián đoạn bởi triều đình Champa bắt giữ.
Để khẳng định chủ quyền và vai trò của nhà nước mới độc lập Lê Hoàn đưa quân xuống phương Nam. Ông đánh vào kinh đô Champa, bắt sống quân sĩ, kỹ nữ, sư tăng đưa về. sau này năm 992 ông lại cho 360 người Chiêm trở về châu Ô lý.
Sau những sự kiện này năm 994 chúa vua nước Chiêm Thành là Chế Cai vào chầu. Như vậy Chiêm Thành ngoài việc công nhận nền độc lập của nước ta tiến tới việc thần phục, coi mình là  bộ phận phụ thuộc. Nếu trước đây Chiêm thành chỉ sai Chế Đông đến dâng sản vật địa phương thì nay đã đưa cháu hoàng tộc vào chầu, mở đầu cho thời kỳ bang giao trong tư thế mới của nhà nước Đại Việt với Phương Nam.
Hệ quả cuộc ngoại giao không thành và sự tiến quân vào Champa, văn hóa Việt tiếp thu một số thành tựu văn hóa Champa trong đó kể đến kỹ thuật sản xuất vật liệu xây dựng. Những đồ đất nung trang trí kiến trúc, ngói mũi lá Champa được sản xuất phục vụ cho xây dựng cung điện ở Hoa lư mà các cuộc khai quật tại đây tìm được có hình dáng, kỹ thuật gốm Champa đưa lại.
2.2 Ngoại giao về phương Bắc.
Sau khi đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống, vị thế dân tộc, nền độc lập tự chủ được nâng cao. Các hoạt động ngoại giao diễn ra khá thường xuyên và khẳng định vị thế của nhà nước độc lập,
- Năm 985 nhà Tống cử sứ sang thăm. Đây là lần đầu tiên phong kiến Trung Hoa chủ động cử sứ đoàn sang nước ta.
Đáp lại nhà Lê  sai sứ sang đáp lễ.
- Năm 986 nhà Tống cử Lý nhược Chuyết, Lý Giác mang chễ sách sang sắc phong “ tuyên dương đức tốt vương triều”. Công nhận nước ta là một vương triều độc lập. Lê Hoàn tỏ tình hữu nghị bằng cách tha cho các tướng bị bắt trả về cho nhà Tống.
- Năm 987 nhà Tống lại sai Lý Giác sang, sau những lần tiếp, Lý Giác đã ca tụng nhà vua “ Ngoài trời lại có trời soi nữa” mà nhà sư Khuông Việt  nói lời thơ : tôn bệ hạ không khác gì vua Tông”
- Năm 988 nhà Tống lại sai sứ là Ngụy Tường và Lý Độ sang gia phong cho vua.
- Năm 990 nhà Tống lại cử Tông Cảo và Vương thế tắc sang. Vua lấy cớ ngã ngựa bưng chiếu thư lên điện mà không lạy để chứng tỏ sự ngang hàng về thể chế quốc gia. Vua còn nói sứ Tống “ sau này nếu có quốc thư thì nên cho giao nhận ở đầu địa giới” để khẳng định cương giới lãnh thổ.
- Năm 991 cử sứ Đào Cần sang đáp lễ
- Năm 995 Sai sứ Đỗ Hanh sang đáp lễ.
Ngoài ngoại giao ‘ vua còn cậy núi biền hiểm trở buông thả cho dân biên cương vào cướp cõi của nhà Tống”. Phải chăng đây là hành động mở rộng cương giới về phioas Bắc và khẳng định cương vực nước nam.
Năm 996 nhà Tống sai sứ Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư, đai ngọc sang Vua đón ngoài giao có ý ngạo mạn không làm lễ để tỏ cao quý khác thường “ Nếu Giao châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, ths đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi”
- Năm 997 nhà Tống phong vua làm Nam bình vương. Vua sai sứ sang đáp lễ.
- Năm 997 nhà Tống không sai người sang sứ nữa.
Sự lớn mạnh của nhà nước độc lập khiến cho năm 1003,  450 người trốn sang đất tống, nhà Tống không dám nhận.
- Năm 1004 sai con là Hành Quân vương Minh Đề sang Tống đề nghị làm Tuyên phủ. Vua Tông thăm hỏi, ban thưởng hậu và ban chức.
Năm 1006 Lê Hoàn mất, trong cuộc đời trị vì 24 năm có thể thấy về mặt trận ngoại giao được nhà Lê triển khai trên cả hai hướng.
- Phía Nam nhà nước Champa từ chưa công nhận nền độc lập, bắt sứ giả, chỉ đến dâng sản vật đến đưa cháu vào chầu là một bước tiến khẳng định một triều đình độc lập của một quốc gia độc lập.
- Phía Bắc lần đầu tiên nhà Tông phải chủ động cử sứ giả đến ngoại giao và mật độ ngoại giao ngày càng dày đặc có đến  6 đoàn ngoại giao đến nước ta và nhà Lê cử đến 4 lần sang đáp lễ. Nếu lần đầu ta chủ động cử sứ sang thỉnh mệnh xin công nhận nền độc lập(954) thì sau nửa thế kỷ  với tư cách quốc gia độc lập được khẳng định, sứ thần sai sang chỉ nhằm đáp lế. Trong quá trình giao tiếp đó vị thế của vị vua độc lập được nâng tầm mà sứ giả coi như vua một nước” Ngoài trời lại có trời soi nữa”. Đây là một thắng lợi ngoại giao vô cùng to lớn, khẳng định vị thế của dân tộc độc lập làm nền tảng cho sự phát triển của dân tộc những triều đại tiếp theo cho đến ngày nay.
Triều đại nhà Lê kéo dài đến năm 1009, trong thời gian ngắn ngủi 3 năm sau khi Lê Hoàn mất, kế thừa những thành tựu ngoài giao thời Lê Hoàn, khi nội loạn tranh ngôi, hoàng tử nhà Lê Đông Thành vương thua chạy tìm cách sang Chiêm Thành. Hành Quân Vương Minh Đề chưa kịp về ở lại Tống mà Vua Tống vẫn phải tiếp tục cấp lương ăn và quán khoán cho đến khi Minh Đề về nước. Nhân sự rối ren quan lại nhà Tống lại muốn xâm lược nhưng vua Tống sợ chết hại tất nhiều, nên cẩn thận giữ gìn đất tổ tông mà thôi”
- Năm 1007 thời Lê Ngọa triều sứ bộ lại được khôi phục “ cử em là Minh Xưởng và Hoàng Thanh Nhã sang Tống dâng Tê Ngưu, ngựa trắng và xin kinh Đại Tạng. Nhà Tống đúc Ấn “ Giao chỉ quận vương” sang ban. Đây là lần đầu tiên sử có ghi lại nước ta có quốc ấn riêng, khẳng định quyền dân tộc.
- Năm 1009 lại cử sứ sang nhà Tống dâng Tê Ngưu, xin áo giáp trụ giát vàng, xin đặt người coi chợ ở Ung Châu. Vua Tống không muốn nhận tê Ngưu “ sợ trái ý vua, nên đợi sứ nước ta về mới sai đem thả ở bờ biển”. Ban cho áo giáp, cho buôn bán ở Liêm Châu và trấn Như Hồng. Những yêu cầu của vua hầu như được đáp ứng.
Tư thế ngoại giao của nước ta thời kỳ này có thể coi là nâng lên một bước mới, góp phần khẳng định nền độc lập dân tộc trên một tư thế mới, tầm cao mới, nâng vị thế của dân tộc trong khu vực, thoát hẳn bóng nô dịch ngàn năm mà lịch sử để lại làm tiền đề cho các triều đại sau kế tiếp.

NGOẠI GIAO VƯƠNG TRIỀU LÝ
                 Thời gian vương triều Lý tồn tại hơn hai thế kỷ( 1009 -1225). Vương triều được xây dựng trên cơ sở của gần một thế kỷ độc lập dân tộc ( 938 -1009) với các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê. Được thừa hưởng thành quả từ các vương triều trước để lại: tinh thần độc lập dân tộc; tính thống nhất lãnh thổ; lực lượng vật chất của dân tộc mà các triều đại trước gom góp dựng xây như hệ thống kinh tế độc lập, quân đội được xây dựng và cả đường lối ngoại giao của dân tộc được thử thách ứng biến qua các thời kỳ lịch sử.
Quyết định rời đô về Thăng Long là quyết định chiến lược của vương triều để tạo một tư thế mới cho dân tộc bước vào thời kỳ mới độc lập tự chủ toàn diện. Thăng Long nằm ở vị trí trung tâm đất nước, là vùng đất  kinh tế văn hóa của dân tộc có bề dày lịch sử kết hợp với trung tâm chính trị hình thành nên trung tâm đầu não của nhà nước độc lập. Từ đây dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới độc lập, tự chủ và xây dựng nên nền văn hóa dân tộc tỏa sáng. Sự trưởng thành của dân tộc thời Lý có sự đóng góp của chính sách ngoại giao hình thành nên vị thế mới của nhà nước độc lập.
Chính sách ngoại giao của nhà Lý giai đoạn này đã thực hiện đa dạng trên nhiều lĩnh vực, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước trên tư thế quốc gia độc lập. Có thể thấy chính sách ngoại giao diễn ra đồng bộ trên các lĩnh vực như: ngoại giao chính trị, ngoại giao quân sự, ngoại giao cương vực biên giới, ngoại giao văn hóa, ngoại giao thương mại trên cượng vị của nhà nước độc lập với cá nước láng giềng
1. Chính sách ngoại giao chính trị
1.1 Về phía Bắc
-Ngay sau khi định đô ở Thăng Long, tháng 3 -1010 vua sai Lương Văn Nhậm và Lê Tài Nghiêm sang Tống để kết giao hảo( sang với tư cách kết giao không phải sang xin phong)
- Năm 1012 sai Đào Thạc Phụ cùng Ngô Nhưỡng sang nước Tống kết hảo
- Năm 1016 nhà Tống phong vua là Nam Bình Vương( găn với cuộc chiến biên giới năm 1014 đánh bại Nam Chiếu)
Năm 1021 sai Nguyễn Khoan Thái và Nguyễn Thủ Cương sang nhà Tống
Năm 1026 sai Lý Trưng Hiền và Lê Tái Nghiêm  sang nhà Tống kết hảo
Năm 1029 Lý Công Uẩn mất nhà Tống sai Chương Dĩnh sang làm lễ điếu tang và sai sứ phong vua mới làm Quận vương.
Năm 1030 Sai sứ là Lê Ốc Thuyên và Nguyễn Viết Thân sang nhà Tống đáp lễ
Năm 1034 nhân châu Hoan dâng con thú một sừng vua sai Trần Ứng cơ và Vương văn Khánh sang biếu nhà Tống.
Năm 1037 Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương.( Vua Thánh Tông)
Năm 1039 Sai Sư Dụng Hòa và Đỗ Hưng tiếp tục thông hiếu.
Năm 1041 Nùng Chí Cao lập nước Đại Lịch ở biên giới phía Tây Bắc( nhà Lý lại thêm một quốc gia bên cạnh. Cuộc đấu tranh biên giới lại diễn ra
Năm 1042 cử Đỗ Khánh và Lương Mậu  Tài đem voi thuần sai biếu nhà Tống lại tiếp tục thông hiếu như cũ.
Năm 1043 Đúc ấn phong cho Nùng Trí cao làm Thái bảo
Năm 1052 Nùng trí Cao xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế đặt tên nước là Đại Nam đem quân đánh nhà Tống. Nhà Tống đánh bại, Nhà Lý cử quân giúp Trí cao
1.2 Về phương Nam
Năm 1011 nước Chiêm Thành dâng Sư tử
Năm 1012 nước Chân Lạp đến cống( đây là lần đầu tiên nước phía nam tiến cống khẳng định sự độc lập lớn mạnh ngang với Trung Quốc)
Năm 1014 nước Chân Lạp sang cống.
Năm 1020  nước Chân Lạp sang cống.
Năm 1025  nước Chân Lạp sang cống
Năm 1026  nước Chân Lạp sang cống
Năm 1039  nước Chân Lạp sang cống
Năm 1044 cho lập trậm Hoài Viễn ở bờ sông Gia Lâm làm quán nghỉ trọ cho người nước ngoài khi đến chầu. Đây là quán ngoại giao đầu tiên được thành lập chứng tỏ mật độ giao lưu với nước ngoài ngày càng nhiều của nhà Lý
2.Chính sách ngoại giao biên giới
2.1 Về phía bắc
Năm 1013 người châu Vị Long theo người Man ( Nam Chiếu làm phản vua thân đi đánh để bảo vệ biên giới.
Năm 1014 tướng người Man là Dương Tường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa. Vua sai Dực Thánh Vương đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống quân lính và ngựa không kể xiết. Đây có thể coi là cuộc chiến biên giới đầu tiên của nhà nước Đại Việt với tập đoàn phong kiến phía Tây Trung Quốc- nhà nước Nam Chiếu.
Vua sai Phùng Chân và Lý Thạc đem 100 con ngựa bắt được của người Man đem biếu nhà Tống. Đây là hành động khuếch trương chiến thắng bảo vệ biên giới của nhà Lý
Năm 1022 Cho Dực thánh Vương đi đánh Đại Nguyên Lịch. Quân ta đi sâu vào trại Như Hồng trong đất Tống, đốt kho đụn rồi về
2.2 Về phía Nam
Năm 1020 sai Lý Phật Mã và Đào Thạc Phụ đánh Chiêm Thành
Năm 1039 con vua nước Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng đồng bọn Lạc Thuẫn, Sa Đâu, La Kế, A Thát Đạt 5 người sang quy phụ nước ta.
1040 người giữ trại Bố Chính của nước Chiêm Thành là Bố Linh, Bố Khan, Lan Đà Tinh đem bộ thuộc hơn 100 người sang quy phụ.
1043 Người Chiêm Thành cướp bóc ven biển sai Đào sử Trung đi đánh dẹp.
Năm 1044 sau 16 năm sứ thần Chiêm không sang cống, nhà Lý đưa quân đi đánh Chiêm Thành.
Năm 1048 sai tướng Trần Trí Năng đem quân đánh Ai Lao
- Năm 1050 Chiêm thành dâng voi trắng
3. Chính sách ngoại giao quân sự
4 Chính sách ngoại giao văn hóa
- Năm1018 sai Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam Tạng.
Năm 1034 sai Hà Thụ và Đỗ Khoan biếu hai con Voi. Nhà Tống lấy Kinh Đại Tạng để tạ
3 Chính sách ngoại giao thương mại
Năm 1012 người Vân Nam ( nước Nam Chiếu) vượt biên giới sang buôn bán ở bến Kim Hoa và châu Vị Long( Hà Giang – Tuyên Quang ngày nay)
Tổng kết hai đời vua nhà Lý:
 Trong 2 đời vua đầu thời Lý có thể thấy mối ban giao giữa Đại Việt với các nước liên quan như: ở phía Bắc các nước Tống- Đại Lý( Nam Chiếu)- Đại Lịch hay Đại Nam của Nùng Trí cao.
Về phía Tây có Ai Lao.
- Về phía Nam có Chiêm Thành - Chân Lạp
- Lý Công Uẩn  ở ngôi 18 năm: có 6 lần cử sứ sang nhà Tống.Nhà Tống cử sứ sang sứ sang 1 lần- Chiêm thành cử sứ sang 1 lần (1011). Chân Lạp 5 lần. Ngoài bàn giao hai nước có bang giao văn hóa xin kinh Tam tạng
- Lý Thái Tông ở ngôi 27 năm có 5 lần cử sứ sang có 1 lần cử sứ sang xin kinh Đại Tạng. Nhà Tống 1 lần sang phong vương.Chiêm thành 1 lần( 1050). Chân Lạp 1 lần.
Ngoài quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng là các cuộc chiến đấu tranh quân sự bảo vệ biên giới như cuộc chiến với Chiêm Thành ở phía Nam năm 1044 chống lại sự cướp bóc ven biển. Chống Ai Lao cướp bóc biên giới phía Tây. Đặc biệt đối với phía Bắc cuộc chiến năm 1014 với Nam Chiếu bảo vệ biên giới phía Bắc và lần đầu đánh sang đất Tống
Đặc biệt hơn sự xuất hiện của các sứ thần khiến lần đầu tiên nhà Lý phải lập ra Trạm Hoài Viễn là nơi chuyên trách để các sứ Thần nghỉ ngơi đã nói lên mối quan hệ ấy thường xuyên và được nhà nước chú trọng.
Mối quan hệ ngoại giao hai đời vua đầu triều Lý đã cho thấy sự ảnh hưởng của quốc gia độc lập đã khẳng định và mở rộng xuống vùng đất phương Nam đặt nền tảng vững chắc cho các vua Triều Lý đời sau phát huy và khẳng định bản lĩnh dân tộc sau hơn một thế kỷ độc lập ( 938 -1054)

NGOẠI GIAO VƯƠNG TRIỀU LÝ
Lý Thánh Tông (17 năm)và Lý Nhân Tông( ở Ngôi 56 năm)- Lý Thần Tống ( 11 Năm)
Phương Bắc:
Lý Thánh Tông
1057 đem thú lạ sang biếu nhà Tống gọi là con Lân Tư Mã Quang bảo nếu là Lân thực cũng không tốt mà là con không phải lân sẽ bị người phương xa chê cười)
Năm 1059 đem binh đánhKhâm Châu nước Tống, khoe binh uy  rồi về vì ghét nhà Tống phản phúc.
- Năm 1060 sai Thân Thiệu Thái đi bắt binh lính bỏ trốn sang nước Tống, bắt chỉ huy sứ của nhà Tống là Dương Bảo Tài cùng binh lính trâu ngựa. Quân Tống sang xâm lấn nhưng bị đánh bại
 Nhà Tống phải cử Thị Lang Bộ Lại là là Dư Tĩnh đến Ung Châu để hội nghị. Vua cử Phí Gia Hựu đi, nhà Tống xin trả Dương Bảo Tài nhưng vua không cho.( Đây có thể coi là hội nghị biên giới đầu tiên)
Năm 1064 cử sứ sang nhà Tống
1067 Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương( lần đầu vào năm 997 khi Lê Hoàn đánh vào Chiêm Thành)
Lý Nhân Tông
1073 vua Tống phong là Giao chỉ Quận vương
1075 nhà Tống các dân Châu huyện biên giới không được buôn bán với nước ta  đóng thuyền bè, tập thủy chiến chuẩn bị xâm lược nước ta
Lý thường Kiệt chỉ huy 10 vạn quân vây đánh các châu Khâm, Liêm, Ung của nhà Tống phá thành trì Lý Thường Kiệt viết Lộ Bố tố cáo tội ác nhà Tống khiến “ dân Tống thấy lời tuyên cáo đều vui mừng, đem trâu rượi khao quân ta.”
1076 Quân Tống hợp với quân Chiêm Thành Chân Lạp xâm lược nước ta. Quân Tống đánh phía Bắc- Chiêm Thành Chân Lạp đánh phía Nam
Lý Thường Kiệt tổ chức chống Tống  “ Nam quốc sơn hà Nam đế cư” bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.
1078 sai Đào Tống Nguyên đem 5 con voi sang biếu nhà Tống xin trả lại các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu và những người châu ấy bị nhà Tống bắt
1079 nhà Tống buộc phải trả châu Quảng Nguyên về nước ta.
1081 nhà Lý trả lại cho nhà Tống dân binh bị bắt ở 3 châu Ung Khâm Liêm vì nhà Tống trả lại châu Quảng Nguyên.
( Ngoại giao biên giới)
Năm 1084 sai Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng người Tống bàn việc cương giới. Định Biên gới. ( Đây là lần đầu tiên hai quốc gia bàn và hoạch định biên giới lãnh thổ nhà Tống phải trả lại cho ta 6 huyện, 3 động vùng biên( người Tống có câu: tham voi Giao chỉ, bỏ mất vàng Quảng Nguyên)
1087 nhà Tống lại sang phong làm Nam Bình Vương
1089 Quân Tống lại xâm phạm vào Châu Bạch Tề ( Cao bằng)
1118 Sai Nguyễn Bá Độ và Lý Bảo thần đem biếu nhà Tống 2 con Tê Giác trắng và đen và 3 con voi nhà
1124 Thủ lĩnh châu Quảng Nguyên là Mạc Hiển và phe đảng bỏ chạy vào nước Tống,  Ung Châu sợ bắt đem trả lại vua cho đi đày ở Châu Nghệ An
1126 Sai Nghiêm Thường và Từ Diên mang 10 con voi cùng vàng bạc, sừng tê sang biếu nhà Tống tạ ơn về việc bắt Mạc Hiền nhưng nước Tống loạn phải đem về
1127 nhà Tống đưa trả nghịch đảng là bọn Mạc Thất Nhân châu Quảng Nguyên
Lý Thần Tông
1132 Nhà Tống phong vua là Giao chỉ quận vương
 Lý Anh Tông
1144 tháng 8 Người nước Tống là Đàm Hữu Lượng cùng đồ đảng đến cướp châu Quảng Nguyên
1164 Nhà Tống Phong vua làm An Nam Quốc Vương. Đây là sự thừa nhận vua độc lập ngang hàng cùng vua Tống)
1168 tháng 8 sứ nhà Tống sang, sứ nhà Nguyên cũng sang. Vua đều thưởng hậu để dụ, ngầm lấy lễ tiếp đãi cả 2 sứ, không cho họ gặp nhau. (Lần đầu sứ nhà nguyên xuất hiện nhà Lý khôn khéo giao tiếp để giữ được tính độc lập)
Lý Cao Tông
1186 tháng giêng vua Tông Phong vua làm An Nam quốc Vương “ cần gì phải thăng dần theo thứ tự”. Đây là được coi là lế đặc biệt với vua Lý.
1187 có nhà sư Tây Vực đến
Lý Huệ Tông
Phương Nam
Lý Thánh Tông
Năm 1055 Chiêm Thành sang cống- Nhà Tống Phong vua làm Giao chỉ quận vương( Bộ phận độc lập-973 lần đầu phong Giao chỉ quận vương)
1056 nước Chân lạp sang cống
1066 Lái buôn nước Trảo Oa dâng Ngọc Châu Dạ Quang
1067 Các nước Ngưu Hống ( phía Tây Bắc), Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê
1068 Chiêm Thành dâng voi trắng sau lại quấy rối biên giới.
1069 vua đi đánh Chiêm Thành, Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý Ma Linh, Bố Chính vào lãnh thổ Đại Việt
1071 Chiêm thành vào cống
Lý Nhân Tông
1074 Chiêm Thành lại vào quấy rối biên giới
1075 Lý Thường Kiệt dẫn quân đi đánh Chiêm Thành,, họa địa đồ hình thế núi sông 3 châu, đổi tên các châu, chiêu mộ dân chúng đến ở.
1093 Sai Mạc Hiển Tích sang sứ Chiêm Thành đòi lễ tuế cống
1103 Lý Giác người Diễn châu làm phản. Lý Thường Kiệt đánh, Lý Giác thua trốn sang Chiêm Thành
Chiêm Thành cướp biên giới.
1104 Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành thu lại 3 châu trước đây bị Chiêm Thành Chiếm lại
1110 Chiêm Thành dâng voi trắng
1117 Chiêm Thành dâng 3 đóa hoa bằng vàng
1118 Chiêm Thành sang cống- Mở hội thiên Phật cho sứ Chiêm Thành đến xem
1120 nước Chân Lạp sang cống- Nước Chiêm Thành sang cống
1123Nước Chân Lạp sang cống, có 5 người Chân Lạp xin quy phụ
1124  tháng giêng-người nước Chiêm thành là Cụ Ông cùng 3 người em họ đến chầu
 Tháng 4- Người nước Chân Lạp Là Kim Đinh A Truyền cùng 4 người gia đồng sang quy phụ
Tháng 5 người Chiêm Thành là Ba Tư Bồ Đà la 30 người sang quy phụ
1126 Chiêm thành sang cống, Vua mở hội Long Trì cho sứ Chiêm Thành vào xem
Lý Thần Tông
1128  tháng giêng sai sứ sang Chiêm Thành báo việc vua lên ngôi
- hơn 2 vạn người  Chân Lạp vào cướp châu Nghệ An- Lý Công Bình đánh bại
 Tháng 8 người Chân Lạp lại vào cướp hương Đỗ Gia châu Nghệ An có đến hơn 700 chiến thuyền, quân ta phá được
Tháng 11 châu Nghệ an đệ tâu một phong quốc thư của nước Chân Lạp, xin sai người sang sứ nước ấy. Vua Không trả lời.
1130 Người nước Chiêm Thành là Ung Ma, Ung Câu sang quy phụ
Tháng 11 chiêm thành sang cống vua đánh cầu ở Long trì cho sứ Chiêm vào hầu xem
1132 người Chiêm Thành là bọn Cụ Bàn trốn vê nước.
Tháng 8 Chiêm Thành và Chân lạp đến cướp châu Nghệ an.Thái úy Dương Anh Nhĩ đem quân đánh tan.
1135 tháng 2, hai nước Chiêm thành và Chấn Lạp sang cống
1137 tướng Chân Lạp là Phá Tô Lăng cướp châu Nghệ An. Lý Công Bình đem quân đánh tan.
 Lý Anh Tông
1149 tháng 2 thuyền buôn 3 nước Trảo Oa, Lộ lạc, Xiêm la vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở hải đảo gọi là Vân Đồn để mua bán hàng hóa quý( lần đầu có quy định về thương điếm)
1150 tháng 9 người Chân Lạp lại cướp châu Nghệ An, do lam chướng nên tự tan vỡ.
1152 người nước Chiêm Thành là Ung  Minh Tá Diệp đến cửa khuyết xin mệnh cho làm vua nước ấy cho Lý Mông đem 5000 quân sang lập Ung Minh Tá Diệp nhưng bị vua Chiêm là Chế Bì La Bút chống cự. Ung Minh Tá Diệp chết cùng Lý Mông.
1154 vua Chiêm dâng con gái vua nhận
1155 Chiêm Thành sang cống.
1159 Nước Ngưu Hống dâng Voi hoa?
Tháng 5- Ngưu Hống và Ai Lao làm phản, Tô Hiến Thành đi đánh
1164, tháng 3 nước Chiêm Thành sang cống
1166 Sứ Chiêm thành đi đến miền Ô Lý, mà vượt biển, cướp bóc dân ta rồi về
1167 Tô Hiến Thành đánh CHiêm Thành. Tháng 10 chiêm Thành sai sứ dâng sản vật xin cầu hòa
Lý Cao Tông
1177 tháng 3 Chiêm Thành đến cướp châu Nghệ An
1182 nước Xiêm La sang cống
1183 Tháng giêng Ngô Lý Tín đi đánh Ai Lao
1184 tháng 3 nước Chiêm thành sang cống. Người buôn các nước Xiêm La, Tam Phật tề vào trấn Vân Đồn dâng báu vật xin buôn bán
1191 nước Chân Lạp sang cống.
1198 sứ Chiêm Thành sang cống và xin cầu Phong.
1199 Sai sứ sang phong vua nước Chiêm Thành
1203 vua nước Chiêm Thành bị chú đuổi đem vợ con sang cầu cứu.
 Lý Huệ Tông
1216 tháng 12 Chiêm Thành và Chân Lạp đến cướp châu Nghệ An
1218 tháng 10 Chiêm Thành và Chân Lạp đến cướp châu Nghệ An
Chính sách ngoại giao của nhà Ly
Kế thừa một thế kỷ quan hệ ngoại giao từ các triều đại trước và 2 đời vua Lý mở đầu. Chính sách ngoại giao nhà Lý với hai mục tiêu. Bảo vệ độc lập chủ quyền lãnh thổ dân tộc và mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực nâng vị thế của dân tộc lên một tầm cao mới.
Đế đạt được mục tiêu đó qua tài liệu cho thấy chính sách ngoại  giao của nhà Lý có những kế sách cụ thể trong quan hệ ngoại giao.
- Đối với phương bắc:
 - Cử sứ sang tiếp tục hòa hảo với nhà Tống
- Kiên quyết giữ, bảo vệ lãnh thổ.sẵn sàng bảo vệ chủ quyền bằng vũ lực nhưng qua con đường ngoại giao tuyên truyền tìm sự ủng hộ của nhân dân phía bắc như Lý Thường Kiệt vào đất tống viết Lộ Bố được dân Tống ủng hộ khi đánh các Châu Khâm Ung Liêm.
- Ngoại giao hoạch định biên giới lãnh thổ để đảm bảo tính hợp pháp ổn định lâu dài
Năm 1084 sai Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng người Tống bàn việc cương giới. Định Biên gới khẳng định chủ quyền lãnh thổ.
- Kiên quyết đòi lại những phần lãnh thổ bị chiếm trái phép, buộc nhà Tống phải trả lại châu Quảng Nguyên năm 1079
 - Nâng vị thế của quốc gia độc lập:  năm 1067 nhà Tống chỉ phong vua là Nam Bình vương chức được phong từ năm 997 thì 70 năm sau Nhà Tống vân dùng chức ấy, chứng tỏ chính quyền phương Bắc chỉ coi nước ta là bộ phận độc lập. 1087 vẫn phong là Nam Bình Vương hoặc 1132 là Giao chỉ quận vương thì đến đời vua Lý Anh Tông và Lý Cao Tông đã được thừa nhận là An Nam Quốc Vương.
- Khôn khéo trong ngoại giao để gữ độc lập như năm 1168 cả 2 sứ đoạn của nhà Tống và Nguyên đều đến Thăng Long, nhà Lý đã thu xếp ổn thỏa không cho gặp nhau để tránh những sự cố ngoại giao.
- Đối với phương Nam
- Mối quan hệ ngoại giao với nhà Lý khá đa dạng, đặc biệt đẩy mạnh với các nhà nước phía nam khu vực. Về ngoại giao ngoài các mối quan hệ truyền thống như Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao thấy mối quan hệ với các nước khác như Ngưu Hống, Trảo Oa, Xiêm La, Tam Phật tề, nghĩa là có quan hệ với các quốc gia lục địa, quốc gia hải đảo( gần 10 nước)
- Với Chiêm Thành từ mức độ cống nạp đến đến cử sứ sang phong vua Chiêm Thành, nói lên vị thế quốc gia được nâng  cao. Lý thánh Tông có 3 lần sứ Lý Nhân Tông có 4 lần. Lý Thần tông 2 lần. Lý anh Tông 2 lần, 1 lần dâng con gái. Lý Cao Tông 2 lần sứ sang cống chưa kể các lần khi Chiêm Thành có biến động, người Chăm lại sang nhà Lý để xin
- Chân Lạp có 5 lần cử sứ  sang cống  và có quốc thư sang

- Các thuyền nhân sang buôn bán để phát triển kinh tế và văn hóa dân tộc

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Sao gọi Dòng sông nghiêng?

                   Quê tôi nằm ven bờ sông Đuống, con sông hiền hòa đỏ nặng phù sa, nối thông sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình góp phần tạo nên diện mạo đồng bằng bắc Bộ.Tuổi thơ tôi đã tắm mát trên sông, thấm đậm điệu hát trống quân hay làn điệu quan họ à ơi ngày lễ hội. Dòng sông này đã hòa máu của dòng họ tôi trong những ngày kháng chiến cho đến bây giờ vẫn day dứt không nguôi.
Sông Đuống trôi đi, một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
                                                  ( Hoàng Cầm)
Chính vì thế tôi đặt tên Blogger  là Dòng sông nghiêng để nhớ về nơi chôn rau cắt rốn, nơi tuổi thơ chuyển tải những ước mơ cùng những cuộc sống nhạt nhòa vắt qua hai thế kỷ.Dòng sông vẫn còn đây nghiêng nghiêng dòng chảy, nghiêng nghiêng cánh diều bay lượn ven sông, nghiêng nghiêng những số phận lặn lội thân cò, lãng mạn nhưng đầy cam go thử thách. Dòng sông nghiêng bắt đầu đời sống riêng của mình gửi đến những ai quan tâm cùng chiêm nghiệm.



VĂN HÓA CHAMPA – CỘI NGUỒN
VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ VĂN HÓA ẤN ĐỘ
                                                                                  Lê Đình Phụng ( Viện KCH)
I. Cội nguồn và những ảnh hưởng văn hóa.           
Văn hóa Champa là một nền văn hóa lớn, độc đáo mang đậm bản sắc tộc người, tồn tại  và phát triển theo suốt chiều dài lịch sử dải đất miền Trung. Nằm trên địa bàn, kế thừa cội nguồn từ văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Champa kế thừ nhiều yếu tố truyền thống từ văn hóa Sa Huỳnh đi lên hội nhập nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài đưa lại hình thành nên nền văn hóa Champa trong lịch sử. Những tài liệu khảo cổ cho biết bằng con đường giao thương trên biển ngay buổi đầu lịch sử người Sa Huỳnh -Chăm đã tiếp thu với nhiều nền văn hóa từ bên ngoài đưa lại.
-Với văn minh Trung Hoa, tài liệu khảo cổ học tìm được qua các cuộc khai quật di chỉ cư trú , mộ chum cho biết khá nhiều đồ gốm ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đó là gốm in văn ô vuông , trám lồng thấy được qua các di chỉ Suối Trình , Xóm ốc ( Đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi); Trà Kiệu, Gò Cấm ( Quảng Nam). Tại các mộ chum ở Hậu Xá (Quảng Nam) có các đồng tiền Ngũ Thù Tây Hán ( niên đại 206BC – 25AD), tiền Vương Mãng( niên đại 8 – 23AD) hay công cụ vũ khí bằng sắt thời Tây Hán( dao sắt chuôi hình vành khăn.). Đặc biệt hơn tại mộ chum Bình Yên – Quế sơn ( Quảng Nam) ngoài đồ gốm, công cụ sắt còn có gương đồng thời Tây Hán. Gương có đường kính 6,8cm, sau gương có hàng chữ Hán cổ “ Kiến nhật chi quang ; thiên hạ đại minh”; niên đại vào nửa cuối thế kỷ I trước công nguyên, minh chứng cho sự tiếp xúc văn hoá Sa huỳnh và văn hoá Hán và  cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa trung Hoa đậm nét trong nền văn hóa bản địa.(1)
- Cùng với văn hóa Trung Hoa theo con đường giao thương trên biển văn hóa Ấn Độ cũng xuất hiện sớm trên vùng đât bán đảo Đông Dương trong đó có Việt Nam.  Với văn hoá Ấn Độ, những tiếp xúc buổi đầu với văn hoá Sa huỳnh thể hiện qua những hiện vật đồ trang sức bằng thuỷ tinh, đá ngọc, mã não  có khá
(1) Tham khảo thêm Lê Đình Phụng: Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp Champa. NXB Văn hóa – Viện Văn hóa. Hà Nội 2006
nhiều trong các mộ chum . Đặc biệt tại cuộc khai quật tại Trà Kiệu năm 1992 đã tìm thấy một mảnh gốm màu xám sẫm có hoa văn in hình tam giác đó là “ mảnh bát thuộc loại gốm thương mại trao đổi La Mã -  Ấn Độ , một loại gốm phổ biến ở các di chỉ như Arikamedu miền Đông Ấn Độ, có niên đại giữa vào giữa thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ I sau công nguyên ”(1). Trong thời kỳ lịch sử,  những tài liệu  ghi chép cùng những bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ khá rộng trên nhiều vùng văn hóa. Sự xuất hiện của người Hồ bên cạnh Sĩ Nhiếp thái thú Giao Châu, hay sự có mặt của Thiền Sư Khâu Đà la tại Luy Lâu cùng sự hiện hiện của Thạch Quang Phật đã nói lên vùng ảnh hưởng sớm của văn hóa Ấn Độ vào bắc Việt Nam. Những dấu chân thần – biểu tượng Phật tại Hương ấn( Bình Thuận ); núi Đại Điếm, hòn San hô ( Bình Định); cửa Sa Kỳ ( Quảng Ngãi) đã cho thấy Văn hóa Ấn Độ sớm xuất hiện trên dải đất miền Trung.  Đây có thể coi là những tài liệu nói về lớp văn hóa đầu tiên của cư dân bản địa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ.
Do điều kiện lịch sử,  mặc dù lớp văn hoá, tôn giáo Ấn Độ đầu tiên truyền vào nước ta có mặt trờn nhiều vùng, nhưng do điều kiện xã hội, vùng phía Bắc chịu sự cai trị, áp đặt của nền văn hoá Trung Hoa nên khó có điều kiện phát triển. Vùng đất phía Nam trong điều kiện độc lập,  khi tiếp thu văn hoá Ấn Độ đã đứng chân và phát triển hoà cùng văn hoá bản địa tạo nên nền văn hoá  Chămpa và phát triển rực rỡ theo suốt chiều dài lịch sử đến khi nền văn hóa này hội nhập vào dòng chảy chung văn hóa dân tộc.
- Văn hoá Champa khi giành được độc lập vào cuối  thế kỷ II( năm 192), hỡnh thành nờn nhà nước cổ đại Lâm Ấp( Lin Y), văn hoá , tôn giáo Ấn Độ có điều kiện từng bước thâm nhập một cách hoà bình vào cộng đồng cư dân Chăm và từng bước chi phối đời sống chính trị tôn giáo của dân tộc này. “ Dân tộc Chàm đồng hoá nhanh với nền văn minh ấy; họ theo tôn giáo và phong tục, chữ
(1)Ian Glover- Mariko Yamagata: Nguån gèc vÒ v¨n minh Cham: c¸c yÕu tè b¶n ®Þa, c¸c ¶nh h­ëng cña Trung Quèc ,Ên §é vµo miÒn Trung ViÖt Nam qua kÕt qu¶ khai quËt Trµ KiÖu ( Duy Xuyªn – Qu¶ng Nam).T/C KCH sè 3 – 1995
viết và tư tưởng; hành chính và pháp luật của nền văn minh ấy ”. Kế thừa tầng nền của văn hoá Sa huỳnh, trước khi Ấn Độ giaó đứng chân ở đây, người Chăm đã  thừa hưởng và có những yếu tố  đặc trưng từ nền văn hoá Sa huỳnh như : nghề trồng lúa nước khá phát triển; nghệ thủ công chế tạo đồ gốm, rèn sắt, dệt vải, chế tác đồ trang sức; khai thác biển; khai thác rừng; tổ chức hành chính xã hội khá cao( có thể đã xuất hiện tổ chức nhà nước sơ khai?); tín ngưỡng thờ đa thần giáo( vạn vật hữu linh), thờ tổ tiên, phong tục chôn cất hoả táng (?)  gia đình mẫu hệ ( thờ Mẹ xứ xở) hay song hệ(?).Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa, người Chăm đã tiếp thu tự nguyện tinh thần của  văn hoá Ấn Độ bởi họ gặp trong đó tư tưởng, tôn giáo của nền văn hoá này có nhiều nét tương đồng. Định cư trên dải đất hẹp miền Trung, đứng trước tự nhiên hùng vĩ, phía Đông là biển bao la; phía Tây là núi rừng cao trùng điệp, người Chăm được hưởng sự ưu đãi của tự nhiên, khai thác rừng và biển nhưng họ cũng chứng kiến sự tàn phá khốc liệt của tự nhiên mà họ cho rằng đó ẩn chứa sức mạnh vô hình của đáng tối cao : tàn phá và sinh sôi nảy nở. Là cư dân nông nghiệp họ cảm nhận được nguồn sống do đất đai đưa lại nuôi dưỡng con người, trong đó nước là nguồn sống cho vạn vật. Chính vì thế biểu tượng của các vị thần Ấn Độ giáo thể hiện vũ trụ ; trời đất như Trời cha( Đyaus) Trời Mẹ( Aditi); đất mẹ( Prithivi); thần Biển( Varuna) đều gần gũi thân thuộc với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống. Các hiện tượng tự nhiên  biểu hiện thông qua hình ảnh của các thần như :thần mưa, sấm sét( Inđra); thần Mặt Trời( Surya); thần Lửa( Agni); thần Gió(Vayu); thần Rượi hay thần Mặt trăng( Soma); hiện tượng Bình minh hay Hoàng hôn( Asuin) là những hiện tượng chi phối hiển hiện thường nhật  trong đời sống của họ. Bên cạnh đó hình tượng hoá thân của các vị thần như  hoá Cá( Matsya); Rùa ( Kurma); Lợn Rừng ( Varaha); Sư tử ( Narasimha)… không xa lạ gì với họ. Cao hơn cả là hệ thống biểu tượng thần Brahma; Visnu; Siva(Trimurti) của Ấn Độ giáo thể hiện sự Sáng tạo – Bảo tồn- Phá huỷ, chu kỳ của tự nhiên, nguồn sống của vạn vật vũ trụ cũng không hề xa lạ với đời sống của họ trước tự nhiên.Bên cạnh đó sự sống động nội dung hàm chứa tinh thần nhân văn của những bộ sử thi Mahabharata; Ramayana và các pho thần tích Purana đã lôi cuốn đời sống tâm linh của cư dân Chăm cổ. Điều quan trọng hơn là tinh thần Ấn Độ trong việc tổ chức một thiết chế xã hội mới, một xã hội trật tự , phát triển, chế độ đẳng cấp được người Chăm, đặc biệt là tầng lớp trên sử dụng để tổ chức một thiết chế xã hội mới có quy mô, tổ chức cao hơn sau khi giành được độc lập. Chính những điều kiện trên đã đưa tinh thần Ấn Độ  vào xã hội Champa và được cư dân ở đây chấp nhận coi đó là mô hình đi lên của dân tộc mình trong lịch sử. Tinh thần đó đã chi phối dân tộc Chăm xây dựng nên nền văn hoá Champa thấm đậm  tư tưởng, tôn giáo Ấn Độ trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc mình.“ Những yếu tố bản địa xa xưa đã tạo nên nền tảng vững chắc của khu vực. Nền nông nghiệp trồng lúa nước với khí hậu gió mùa đẫm nước, chế độ gia đình thiên về mẫu hệ hay song hệ, tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên và thần đất gần gũi thân thiết là những nét sống tự nhiên của họ ”(1), đó là những tiền đề tạo điều kiện cho văn hoá Ấn Độ gia nhập đứng chân trên vùng đất.Theo những nguồn tài liệu cho biết văn hoá Ấn Độ đã có sự tiếp xúc đến vùng Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng từ những thế kỷ đầu công nguyên: “Vào khoảng nửa đầu thế kỷ I sau công nguyên chắc chắn đã có cuộc tiếp xúc giữa những người mang văn hóa Ấn Độ với những người dân bản địa 3 vùng Bắc - Trung - Nam nước ta lúc bấy giờ… Nhiều tu sĩ đã đến tu và truyền giáo ở nước ta, đó là cơ sở hình thành một lớp văn minh Phật giáo - Bà la môn giáo đầu tiên…”(2). Trong 5 tuyến đường biển mà văn hoá Ấn Độ vào nước ta đáng chú ý là các tuyến vào Ninh Thuận - Bình Thuận - Khánh Hoà - Phú Yên, tuyến vào Bình Định, Quảng Nam là những điểm văn hoá Ấn Độ dừng chân và phát triển thuộc địa bàn cư dân Chăm cổ hình thành nên nền văn hoá Chăm sau này. Theo các nhà nghiên cứu, hấp lực đầu tiên đến Đông Nam Á là buôn bán trao đổi thương mại, nhất là tìm kiếm vàng chứ chưa phải là truyền giáo, “Hấp lực kinh tế mà chủ yếu là vàng đã đưa người Ấn Độ đến Đông Nam Á”.
(1)Tham kh¶o thªm Cao Xu©n Phæ:  Nh÷ng ¶nh h­ëng v¨n ho¸ n §é vµo ViÖt Nam. Gi¸o tr×nh ®µo t¹o sau ®¹i häc chuyªn ngµnh KCH. Hµ Néi 1996. T­ liÖu ViÖnKCH
(2) Nguyễn Duy Hinh:: §Òn ®éc c­íc dÊu ch©n ThÇn – biÓu t­îng phËt.T/C KCH sè 1- 2/1988
Khi vượt biển đi xa buôn bán với những chặng đường đầy hiểm nguy họ thường mang các Phật tử, sư tăng, thầy tu, thầy Bà la môn đi theo để cầu cho sự bình yên. Thế là cùng với buôn bán, văn hoá Ấn Độ cùng những giáo lý tôn giáo cũng có điều kiện lan toả. Trong những tôn giáo từ Ấn Độ tỏa ra có thể thấy có hai dòng: Ấn Độ giáo hay Bà la môn giáo và đạo Phật.
Do  hội nhập bằng phương thức hoà bình, có nhiều nét cội nguồn tương đồng văn hoá, Ấn Độ giáo hoà nhập nhanh với tín ngưỡng địa phương có điều kiện phát triển và chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của người Chăm theo suốt chiều dài lịch sử. Để xây dựng được nền văn hoá có giá trị vĩnh hằng ấy, người Chăm đã dựa trên cơ sở tầng nền của nền văn hoá bản địa, tiếp thu , chọn lọc ảnh hưởng của các nền văn hoá bên ngoài để tạo nên bản sắc văn hoá riêng.
II Những nội dung và biểu tượng ảnh hưởng của Ấn Độ giáo.
 Tài liệu khảo cổ học để lại sớm nhất cho thấy giai đoạn đầu Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần Champa. Những tượng phật  tìm được tại Cao Lao hạ(Quảng Bình) hay văn bia Võ Cạnh( Khánh Hoà)“được viết bằng tiếng Phạm đúng cách cho ta thấy rằng họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Ấn Độ…người soạn bia đã để lộ rõ sự tín ngưỡng rõ rệt vào đạo Phật với những câu đối với chúng sinh..hãy uống như người ta uống nước Cam lồ… lời nói đầy nhân hậu với chúng sinh...”(1) .Bia có niên đại khoảng thế kỷ II đến thế kỷ IV.
 Nhưng chi phối chính trong đời sống tinh thần của người Chăm là Ấn Độ giáo, có thể thấy nội dung và tinh thần thể hiện trên các tài liệu :
1. Tự dạng trên các nguồn gốc văn bia.
Trong những văn bia tìm thấy có niên đại sớm nhất vào thế kỷ IV – V ( bia Mỹ Sơn I, bia Hòn Cục, Chiêm Sơn ( Quảng Nam); bia Chợ Dinh( Phú Yên) là những tự dạng chữ đầu vuông. Nội dung văn bia có nhắc đến tên các vị thần của  (1) Tham kh¶o thªm:
- L Finot: Bia Vâ C¹nh ( Kh¸nh Hoµ) BEFEO TËp XV.Tr 2 – 3.
- Lª Träng Kh¸nh: Bia Vâ C¹nh ( Kh¸nh Hoµ).NPHMVKCH.Hµ Néi 1993; tr 304
Ấn Độ giáo như Thần Anhi(Thần Lửa) hay một dạng của thần Shiva(Bhađrêxvaraxvamin). người dựng bia là Đại Vương(Maharaja) hay vua Bhađravarman I.Tài liệu lịch sử nói về  đầu thế kỷ IV vua Lâm ấp ( Lin-Yi) Phạm Văn năm 340  cử sứ bộ sang cống nhà Tấn ngoài voi thuần dưỡng còn có bức thư viết bằng chữ Hồ ( tức chữ  Ấn Độ cổ) .
Ảnh hưởng tự dạng của Ấn Độ kéo dài cho đến thế kỷ IX, người Chăm mới sáng tạo ra chữ Chăm cổ. Về nội dung văn bản các văn bia đều thể hiện rõ nội dung về tôn giáo Ấn Độ tên các vị thần, vị vua được thần hóa, chế độ đẳng cấp vv... Văn bia đã cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa tôn giáo của Ấn Độ đến cộng đồng cư dân Chăm trên mọi vùng lãnh thổ.
Bia Hòn Cục và bia Chợ Dinh
2. Những biểu tượng tôn giáo trong điêu khắc.
Điêu khắc đá Champa cho đến nay được biết chủ yếu có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc tôn giáo( đền – tháp thờ). Những tác phẩm điêu khắc thể hiện trên hai hình thức: điêu khắc đá thể hiện trên bệ thờ, tượng thờ và điêu khắc đá thể hiện  là các thành phần kiến trúc. Điêu khắc đá tượng thờ, bệ thờ được thể hiện độc lập, là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh: bệ thờ hoàn chỉnh thờ trong lòng tháp, tượng thờ thường là khối tượng tròn là các vị thần hoặc vật linh. Điêu khắc đá là thành phần kiến trúc gồm nhiều loại hình khác nhau, đảm nhận vị trí, công năng khác nhau trong kiến trúc nên các đề tài thể hiện khác nhau phù hợp với tổng thể kiến trúc như: bậc cửa tháp, lan can, cột cửa, mi cửa, TyPam( trang trí vòm cửa), trang trí các vòm cửa tầng tháp, đá trang trí điểm góc vv.. thường được thể hiện dưới dạng phù điêu. Mặc dù các tác phẩm điêu khắc đá  có vai trò, vị trí khác nhau nhưng nội dung thể hiện khá thống nhất đó là hình ảnh liên quan đến các vị thần Ấn Độ giáo. Những hình ảnh này có mặt trên cả hai thể loại : tượng tròn và phù điêu có mặt theo suốt chiều dài lịch sử các công trình kiến trúc tôn giáo Champa.
2.1     Các vị thần Ấn Độ giáo.
 Trong hệ thống thần linh vô cùng phong phú đa dạng của văn hóa Ấn Độ, dựa vào truyền thống văn hóa bản địa, yếu tố tâm lý dân tộc, môi trường cư trú, người dân Chăm đã tiếp thu  và thể hiện  hình ảnh khá nhiều vị thần và những hình ảnh đó theo họ suốt đời sống tâm linh  dọc theo dặm dài lịch sử:
- Trước hết là hình ảnh 3 vị thần chính: Bhrama- Visnu – Shiva. Trong văn hóa Champa hình tượng thần Shiva được biểu hiện sớm nhất thể hiện qua biểu tượng Linga, đó là 7 Linga trụ tròn tìm được tại Mỹ Sơn.
Linga tại Mỹ Sơn
Những hiện vật điêu khắc đá có niên đại sớm thế kỷ VIII – IX thể hiện sự hợp nhất của hình ảnh vị thần Shiva và Visnu đó là Linga có 2 phần trụ tròn thể hiện Shiva và bát giác thể hiện Visnu như các hiện vật tại: Vân Trạch Hòa, Ưu Điềm, Mỹ Khánh ( Thừa Thiên Huế), Tuy Phước ( Bình Định);  Tuy Phong ( Bình Thuận) và Khe Thẻ ( Quảng Nam)... Những hiện vật này thường có kích thước không lớn.
Linga tại Ưu Điềm- Tuy Phước và Tuy Phong
Hiện vật điêu khắc phổ biển là hình ảnh 3 vị thần trên một biểu tượng Linga ( Tam vị nhất thể) là Linga có cấu trúc 3 phần: trụ tròn ( Shiva) Bát giác( Visnu) và vuông( Bhrama). Những hiện vật này thưởng có kích thước lớn, trang trí đẹp.
 Biểu tượng này được khắc tạc thể hiện theo nội dung của một thần thoại Ấn Độ
Linga các tháp nhóm A- E – F ở Mỹ Sơn
Ngoài những khối tượng tròn, hình ảnh 3 vị thần chính còn được thể hiện trên cùng một bức phù điêu (Ty Pam) trang trí vòm cửa ở phế tích Ưu Điềm với hình ảnh 3 vị thần chính trên cùng một tác phẩm
Phù điêu Ưu Điềm  và Mỹ Sơn E1
Tác phẩm điêu khắc có niên đại sớm vào thế kỷ VII là mi cửa tháp Mỹ Sơn E1 là hình ảnh của hai vị thần Bhrama với Visnu trong đó hình ảnh thần Bhrama giữ vai trò chủ đạo.
 Nhưng trong điêu khắc Champa vai trò của thần Shiva giữ vị trí quan trọng trong các tác phẩm điêu khắc. Sự có mặt của hình ảnh thần Shiva có mặt nhiều và xuyên suốt trong điêu khắc Champa đã được các nhà nghiên cứu cho rằng thần Shiva là vị thần chính được người Chăm thờ phụng- Shiva giáo.

Thần Shiva trong trang trí vòm cửa tháp tại Trà Liên ( Quảng Trị) và Mỹ Sơn.
Hình ảnh thần Shiva không những thể hiện trên phù điêu mà còn thể hiện dưới dạng tượng tròn khá hoàn chỉnh.Bên cạnh đó là hình ảnh các vị thần Bhrama
( thần sáng tạo), Visnu( thần bảo tồn), Skanda( thần chiến tranh),  hay các vị thần bảo trợ xã hội như thần Ganesa( phúc thần), Kubera ( thần tài lộc), Drappala( thần gác cửa)... cũng được thể hiện khá nhiều trên các công trình, tác phẩm điêu khắc.Đây được coi là các vị thần Ấn Độ giáo điển hình được người  Chăm thờ phụng, trong đó sự có mặt của thần Shiva  giữ vai trò chủ đạo.
2.2. Các vị thần tự nhiên.
Cùng với các vị thần tôn giáo, các vị thần tự nhiên có nguồn gốc Ấn Độ cũng  gia nhập vào đời sống tâm linh người Chăm và được thể hiện qua các phẩm điêu khắc như: thần Agnhi( thần lửa), Vanura( thần đại dương), Vayu ( thần gió),Surya(
Tượng thần Shi va
thần mặt trời- thần thái dương), Inđra( thần sấm sét), thần Lokapala( thần phương hướng), Parvati( thần núi),  Balarama( thần đất),Yaksa( thần rừng), Krihna( thần đồng cỏ), Yama( thần chết), Isana( đấng tự tại), Kala ( thần thời gian)..... Những vị thần này ngoài yếu tố văn hóa Ấn Độ, đây cũng là những yếu tố tự nhiên chi phối đời sống của người Chăm cho nên sự gia nhập và tồn tại của các vị thần là hằng số có mặt xuyên xuốt trong đời sống văn hóa và tôn giáo Champa trong lịch sử
2.3. Các biểu tượng Linh thú.
Song hành cùng các vị thần, mỗi vị thần linh lại có một linh thú là vật cưỡi như thần Shiva với bò Nandin; thần Bhrama với ngống Hamsa; thần Visnu với thần điểu Garuda.  Bên cạnh đó là các con vật như rắn Naga, rắn  thủy quái Makara, Giahasimha, Khỉ ( Haruman), Sư tử vv...
2.4. Các tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung sử thi hay tôn giáo.
 Cùng với hình ảnh các vị thần, điêu khắc Champa còn thể hiện  trích đoạn nội dung các s sử thi, trường ca, hay truyền thuyết cổ tích có nội dung văn hóa Ấn Độ. Có thể gặp trên các tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung về đám cưới thần Shiva, cuộc đấu trí giữa quỷ Ravana với thần Shiva trên đỉnh núi Kaisala.
Quỷ Ravana đấu trí cùng thần Shiva( Phù điêu tại Quảng Điền và Mỹ Sơn F2)
Một số tác phẩm thể hiện nội dung trường ca Ramaya như cảnh lễ cưới nàng Sita trên bệ thờ Trà Kiệu, hay diễn lại sự tích Hoàng tử Rama cứu Sita với sự trợ giúp của Hầu vương trang trí trên đế tháp Nam Khương Mỹ( Quảng Nam).
Điểm qua những đề tài điêu khắc trong văn hóa Champa, có thể thấy toàn bộ nội dung điêu khắc đều có nội dung mang ảnh hưởng từ văn hóa, tôn giáo Ấn Độ du nhập qua t¹o nªn nh÷ng trung t©m t«n gi¸o lớn chi phèi ®êi sèng tinh thÇn cña d©n téc m×nh theo suốt chiều dài lịch sử tộc người.
III. Văn hóa Champa: Dân tộc và hội nhập
Để có nền văn hóa mang đậm bản sắc tộc người, người Chăm đã kế thừa trên nền tảng văn hóa tín ngưỡng của tộc người mình được hình thành và dựng xây trong suốt tiền trình tồn tại từ thời tiền – sơ sử. Với điều kiện lịch sử cụ thể, người Chăm sớm giành được độc lập, tự chủ nên họ có điều kiện chủ động hội nhập văn hóa,   tạo điều kiện cho văn hóa tôn giáo Ấn Độ dừng chân và phát triển trên dải đất miền Trung. Văn hóa, tôn giáo Ấn Độ buổi đầu đã có mặt trên suốt dải đất hình chữ S, nhưng chỉ dừng chân và phát triển trên vùng đất người Chăm quản lý trong lịch sử.Nếu văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng đậm trong đời sống tinh thần văn hóa Việt, thì văn hóa Ấn là sợi chỉ đỏ xuyên xuốt trong đời sống tinh thần của cư dân Chăm. Mặc dù vậy, trong quá trình tiếp thu và phát triển văn hóa Champa vẫn tự khẳng định bản sắc tộc người  của mình qua các tác phẩm điêu khắc. Những phù điêu trang trí trên mi cửa tháp Mỹ Sơn E4, Chánh Lộ thể hiện cảnh sinh hoạt của triều đình Champa, hay những trang trí trên bệ thờ Đồng Dương tả những cảnh sinh hoạt triều đình, cảnh múa hát, sinh hoạt vẫn mang đậm sắc thái tộc Chăm. Sự thần hóa các vị vua, đồng nhất với thần linh Ấn Độ ( Shiva hay Bhrama) hay đưa tục thờ cúng tổ tiên vào đền thờ các thần linh đã làm nên tính Champa trong các hình ảnh vị thần hay đền thờ ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ.Có thể thấy bản chất của văn hóa Champa là truyền thống văn hóa, tín ngưỡng Chămpa được núp dưới vỏ bọc văn hóa tôn giáo Ấn Độ và ngược lại, văn hóa, tôn giáo Ấn Độ đã hội nhập và thành công trong văn hóa Champa, hình thành nên một vùng văn hóa “phi Hoa” trong tổng thể văn hóa Việt Nam trong lịch sử. Sự thành công này đã tạo nên  mối quan hệ truyền thống văn hóa giữa các tộc người sinh sống trên dải đất Việt Nam  và Ấn Độ trong lịch sử.  Mối quan hệ  trong lịch sử là nền tảng, tiền đề cho sự hợp tác và phát triển góp phần xây dựng nên mối quan hệ Việt- Ấn ngày càng gắn bó hữu nghị trong tương lại./.


 Biểu tượng Shiva gắn với hình ảnh các vị vua trong Champa tại PoKllong Gia Lai và Porome
VĂN HÓA CHAMPA
TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG VĂN HÓA
Lê Đình Phụng ( Viện Khảo cổ học)
I Không gian văn hóa Champa.         
    Trong tổng thể  nền văn hóa chung của dân tộc trong lịch sử, văn hóa Champa chiếm vị trí quan trọng, góp một sắc màu đa dạng, độc đáo trên lãnh thổ dải đất hình chữ S ven biển Đông.Sự độc đáo thể hiện bản sắc riêng của tộc người Chăm sáng tạo ra theo suốt chiều dài lịch sử từ những thế kỷ đầu công nguyên đến khi sát nhập chung vào nền văn hóa dân tộc. Vị trí quan trọng bởi nền văn hóa này tồn tại trên một không gian lớn lãnh thổ dân tộc ngày nay từ Quảng Bình đến Bình Thuận và cả những  đảo xa cùng vùng Tây nguyên rộng lớn. Có thể thấy, không gian của văn hóa Champa nằm gần trọn trong dải đất miền Trung lãnh thổ hôm nay; phía Tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ gắn với núi rừng Tây nguyên rậm rạp bao la; phía Đông là biển lớn chập trùng. Kẹp giữa núi và biển là dải đất đồng bằng nhỏ hẹp chạy dài ven biển  do các con sông có nguồn gốc từ dãy núi phía tây chảy về biển tạo thành. Do kiến tạo địa chất, không gian văn hóa Champa chia thành nhiều tiểu vùng ngăn cách bởi những dải Hoành Sơn tỏa từ dãy Trường Sơn đâm ngang xuôi ra biển theo hướng Đông – Tây tạo thành. Có thể thấy địa hình vùng đất chia làm những tiểu vùng chính: Phía Bắc  là vùng Quảng Bình – Quảng Trị - Thừa Thiên Huế được giới hạn bởi dãy núi Hoành Sơn với đèo ngang hiểm trở phân giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình ở phía Bắc. Phía Nam ngăn cách  là dải núi cao trùng điệp với đèo Hải Vân cao ngất, nơi có “đệ nhất hùng quan”.Tiếp đến là vùng đất Quảng Nam – Quảng Ngãi với phía bắc là đèo Hải Vân; phía nam ngăn cách là đèo Bình Đề với vùng đất Bình Định.Đây là vùng đất có dải đồng bằng với diện tích lớn nhất miền Trung.Nằm giữa vùng đất là địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay với giới hạn phía Bắc là đèo Bình Đê; phía Nam là đèo Cù Mông cao ngất. Tiếp đến là vùng đất Phú yên với đèo Cù Mông phía bắc và đèo Cả hiểm trở phía nam. Vùng đất Khánh Hòa hiện nay  nằm gọn trong bồn địa với đèo Cả ngăn phía bắc  núi Tà Lương ngăn phía nam, đây là vùng đất với những dải đồng bằng hẹp chạy ven các triền sông lớn xen giữa những dải núi non hùng vĩ. Vùng đất này nổi tiếng với sản phẩm Trầm hương trong lịch sử, nên còn có tên gọi Xứ trầm Hương. Từ núi Tà Lương trở vào là dải đồng bằng cồn cát ven biển của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, ngăn cách với vùng đất Đông Nam Bộ là con sông Đồng Nai hình thành nên địa giới tự nhiên. Vùng đất này được coi là  vùng khí hậu khô hạn nhất miền Trung, đồng bằng hẹp khô hạn, cồn cát chiếm tỷ lệ cao.
 Có thể thấy, toàn bộ dải đất miền Trung, có địa hỡnh chung,phớa tõy là  khối núi Trường Sơn tiếp theo là các dải đồi thấp chiếm hầu hết diện tích, tiếp đến là “ các đồng bằng duyên hải hầu như chỉ là một đường viền nhỏ hẹp mà cuộc sống kinh tế ngay trong quá khứ cũng không tách rời khỏi khối núi vĩ đại đó” (Lê Bá Thảo- 1977). Phía đông là biển lớn, ngoài biển mỗi vùng có hệ thống đảo liên quan.
Mặc dù có tính chất chung như vậy, nhưng do sự chia cắt của địa hình, trong lịch sử mỗi vùng đất lại tồn tại như một vùng khu biệt với đầy đủ địa hình sông ngòi, đồng bằng, trung du, miền núi, nghiêng từ tây sang đông tạo nên các vùng tách biệt nhau. Mối liên hệ của các vùng chủ yếu thông qua đường biển theo trục bắc - nam, còn đường bộ ít thuận lợi để có sự qua lại mật thiết với nhau bởi sự chia cắt của những dải núi ngang sừng sững chắn chạy dài từ tây sang đông hiểm trở. Mỗi vùng có đủ mặt các loại địa hình núi, đồi, đồng bằng, sông và các vịnh biển  hình thành nên hệ thống giao thông thủy thuận lợi trong vùng và đi các vùng khác.

Địa hình mỗi tiểu vùng nhìn chung cho thấy không gian kín của mỗi vùng, nhưng có không gian mở chung ra biển. Mỗi vùng đó lại có con đường riêng gắn bó với vùng đất Tây Nguyên giàu có và rộng lớn. Ví dụ như Quảng Nam  là sông Thu Bồn, Quảng Ngãi là đường bộ đèo Violac; Phú yên là hệ thống sông Đà Rằng;  Nha Trang (Khánh Hòa) là đèo Phượng Hòang; Bình Thuận hệ thống sông Dinh vv...
Những yếu tố địa lý nêu trên trong quá trình lịch sử đã chi phối quan trọng sự hình thành và phát triển của văn hóa Champa trong lịch sử, tạo nên những vùng văn hóa đa dạng, trên nền tảng của một nền văn hóa thống nhất, kéo dài theo suốt chiều dài lịch sử tộc người Chăm


Bản đồ không gian văn hóa Champa
(Nguồn: Thống kê khảo tả các di tích... H.Parmentier 1909)
II. Di tích văn hóa Champa.
Theo các nguồn sử liệu cùng những tài liệu khai quật khảo cổ học cho biết, ngay từ những năm đầu của lịch sử, trên dải đất miền Trung đã có nhiều nhóm người Chăm cư trú trên các vùng đất khác nhau. Tài liệu ghi chép về những nhóm người Chăm phía bắc bị nhà Hán xâm lược đô hộ lập nên huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, mà sau này họ khởi nghĩa giành thắng lợi lập nên nhà nước độc lập Lâm Ấp( Lin Y) trên vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam ngày nay. Những cộng đòng người Chăm phía nam vẫn sống độc lập với tổ chức nhà nước sơ khai ban đầu. Các cuộc khai quật khảo cổ học tại Đồng Nghệ (Quảng Ngãi); Khe Ông Dầu ( Phú Yên), Hòa Diêm ( Khánh Hòa) với số lượng đồ gốm phong phú, mang đặc trưng riêng của vùng đất đã cho biết ở đây có những nhóm người Chăm cư trú khác nhau và có mối quan hệ với nhau. Bia kí Champa cũng cho biết người Chăm xưa có 2 tộc người chính là tộc Kau và tộc Dừa giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và tinh thần của người Chăm trong lịch sử
Điều kiện không gian mở với biển, điều kiện tự nhiên kinh tế nhiệt đới phong phú có giá trị đã mang lại dải đất miền Trung sức sống. Những năm đầu công nguyên  vùng đất Champa đã xuất hiện các thuyền buôn ngoại quốc đến đây bán mua trao đổi. Các gương đồng thời Hán có mặt từ Quảng Bình đến Quảng Nam đã nói lên luồng thương mại từ Bắc xuống Nam. Các mảnh gốm Ấn Độ có mặt tại Quảng Nam đã cho biết mối quan hệ buôn bán xa theo dòng từ Nam đên bắc,  dấu hiệu manh nha xuất hiện con đường  gốm sứ tơ lụa trên biển mà vùng biển Champa là nơi hội tụ. Sự giao thương là “cú hích” cộng với sự hội nhập văn hóa bản địa đã hình thành văn hóa Champa trong lịch sử và tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử.
Trước hết văn hóa Champa  có nguồn gốc là văn hóa bản địa  kết hợp với sự hội nhập của văn hóa tôn giáo Ấn Độ, trong đó yếu tố văn hóa tôn giáo Ấn Độ mang tính nổi trội.Mặc dù sớm tiếp xúc và một phần bộ phận khu vực đã từng chụi đô hộ của văn hóa Hán, nhưng người Chăm không tiếp nhận nền văn hóa này vào thành bộ phận văn hóa dân tộc. Chối từ mô hình văn hóa Hán, tiếp thu, chấp nhận mô hình văn hóa Ấn, “ Dân tộc Chàm đồng hoá nhanh với nền văn minh ấy; họ theo tôn giáo và phong tục, chữ viết và tư tưởng; hành chính và pháp luật của nền văn minh ấy ” Người Chăm theo địa hỡnh và vựng cư trú đó  tổ chức xó hội  “ Champa được chia thành 5 vùng giống như 5 công quốc: Indrapara; Amaravati; Vijaya; Kauthara và Panduranga. Các văn bia khắc đá và các văn bản khác cho thấy Champa được tổ chức theo kiểu giống quốc gia liên bang hoặc hợp bang hơn là một quốc gia quân chủ thống nhất” . “Một số công quốc có thể tương ứng với các tỉnh do tổ chức Chàm giữ lại: Amaravati; Kauthara; Vijaya; Panduranga…”
Trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa, với nền cảnh chung  là tôn giáo  có nguồn gốc Ấn Độ, trên các vùng Champa hình thành nên hệ thống  cơ sở xã hội và văn hóa  tương đồng nhau đó là hệ thống thành thị - Trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của vùng đất. Hệ thống thương cảng, nơi giao lưu buôn bán trong và ngoài vùng. Trung tâm tôn giáo: các cơ sở thờ phụng tôn giáo: tháp thờ, đền thờ.
Hệ thống di tích này nằm theo trục hướng đông – Tây, dọc theo các dòng sông lớn trong khu vực làm nên một chỉnh thể văn hóa chung. Có thể thấy hệ thống di tích này theo các dòng sông lớn tại các vùng như sau:
 Quảng Trị : Cảng Cửa Việt- Thành Thuận Châu- Trung tâm tôn giáo: Tháp Dương Lệ. theo trục sông Thạch Hãn
Thừa Thiên Huế: Cảng Tư Hiền – Thành Lồi- Trung tâm tôn giáo Văn Trạch Hòa ( Phong Điền). Theo trục  hệ thống sông Hương - Ô Lâu.
 Quảng Nam: Càng Đại Chiêm cảng – Thành Trà Kiệu – Trung tâm tôn giáo Mỹ Sơn theo trục sông Thu Bồn.
Quảng Ngãi: Cảng Sa Kỳ - Thành Châu Sa – Trung tâm tôn giáo: Chánh Lộ theo trục sông Trà Khúc.
Bình Định: Cảng Thi Nại- Thành Chà Bàn- Trung tâm tôn giáo Tháp bánh Ít. Theo trục hệ thống sông Kon – Hà Thanh
 Phú Yên: Cảng cửa sông Đà Rằng – Thành Hồ- Trung tâm tôn giáo Hòn Mốc theo trục sông Đà Rằng.
Khánh Hòa cảng cửa sông Cái- Thành (?)- Trung tâm tion giáo: Ponaga theo trục sông Cái
Ninh Thuận: Cảng Phan Rang- Thành Virapura(?)-  Trung tâm tôn giáo Hòa Lai(?) theo trục sông  Dinh.
Bình Thuận : Cảng Phan Thiết- Thành Song Lũy – Trung tâm tôn giáo (?) theo trục sông Song Lũy.
 Như vậy, bên cạnh các vùng đã tìm thấy đầy đủ dấu tích của 3 trung tâm  văn hóa Champa trên mỗi vùng đất, đặc biệt là các vùng đất định đô cũ như Quảng Nam. Bình Định, hay các vùng quan trọng như Quảng Trị, Quảng Ngãi; Phú Yên thì cũng có nhiều vùng chưa xác định rõ đủ mặt 3 trung tâm, nhưng chắc cũng nằm trong quy luật chung này. Những di tích này cho thấy tính thống nhất văn hóa của Champa trên toàn lãnh thổ, nhưng cũng cho thấy tính độc lập trong mỗi khu vực, tạo nên sự đa dạng của văn hóa trong lịch sử. Đây cũng là cơ sở vật chất để góp phần đưa ra nhận định thể chế Champa là một quốc gia liên bang gồm nhiều tiểu quốc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
III. Mô hình và mối quan hệ giữa các di tích.
1. Hệ thống thương cảng.
 Trong quá trình tồn tại phát triển, do điều kiện tự nhiên, nền kinh tế Champ khai thác rừng và khai thác biển giữ vị trí quan trọng. Sự kết hợp kinh tế rừng với kinh tế biển hình thành nên hệ thống cảng trên mỗi vùng đất. Cảng biển - sông là cầu nối giữa các vùng trong khu vực và  các quốc gia bên ngoài. Do kiến tạo của địa chất, đã hình thành hệ thống vịnh vũng ven biển ven dải đất Champa.Các con sông từ Trường Sơn đổ về các vịnh tạo nên hệ thống cảng. Cảng là nơi hội tụ sản phẩm biển ngược dòng sông lên phía Tây cung cấp cho thị trường rừng, cao nguyên. Cảng là nơi hội tụ sản phẩm rừng cung cấp cho thị trường đặc biệt là xuất khẩu.
Ai về nhắn với Nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên
Vai trò trung chuyển của Cảng đã được con người sử dụng từ lâu trong lịch sử. Các cảng biển Champa đều có nguồn gốc từ tiền cảng trong văn hóa Sa Huỳnh.Những cuộc khảo sát, thám sát khai quật khảo cổ học đã phát hiện hàng loạt các di tích văn hóa Sa Huỳnh ven các cảng tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định... đặc biệt là tại Hội An- Quảng Nam.Đến thời kỳ Champa hệ thống cảng bùng lên sức sống, hầu hết các cảng đều xuất hiện hệ thống di tích liên quan các miếu, tháp thờ. Cảng Champa ngoài chức năng hoạt động kinh tế, đây là điểm tiếp xúc văn hóa. Các thương lái nước ngoài khi đến đây buôn bán đã tạo nên điểm giao lưu vô tình hoặc có  ý về văn hóa, tín ngưỡng. Những di tích, di vật có niên đại sớm nhất trong văn hóa Champa thường gắn liền với hệ thống cảng như bia Võ Cạnh ( Nha Trang – Khánh Hòa) hay nhóm hiện vật tìm được tại Cao Lao Hạ ( Quảng Bình).Hệ thống cảng là nơi tiếp nhận sớm nhất các luồng văn hóa tín ngướng đến vùng đất. Ngoài văn hóa tôn giáo Ấn Độ, các tôn giáo khác cũng xuất hiện trên địa bàn các cảng Champa. Đạo Hồi có mặt vào thế kỷ IX tại thương cảng Đại Chiểm cảng ( Quảng Nam) với các mảnh gốm Ítsalam có màu men xanh lục sậm cooban, xương gốm trắng dày thô xốp tìm được qua khai quật di tích Cù Lao Chàm đã nói lên sự ảnh hưởng của các thương nhân Ảrập đến vùng đất. Đạo Hồi theo thương nhân đã có ảnh hưởng vào đây với các kiến trúc tháp thờ Champa khá độc đáo như tháp Bằng An( Quảng Nam) Chánh Lộ ( Quảng Ngãi). Sau này thông qua các cảng biển sự thâm nhập của đạo Hồi càng rầm rộ đặc biệt trên địa bàn Ninh – Bình Thuận tạo nên tầng lớp Chăm Hồi giáo trên vùng đất. Có thể nói cảng Champa là không gian mở theo suốt chiều dài lịch sử để người Chăm giao lưu, tiếp thu ảnh hưởng nhiều luồng văn hóa từ bên ngoài đưa vào- Đó là không gian mở của văn hóa Champa trong lịch sử.
2. Hệ thống thành cổ.
Thành cổ có mặt trên hết các khu vực của người Chăm, hệ thống thành cổ này là  ngoài chức năng quân sự còn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của mỗi vùng. Với vai trò quan trọng của đường thủy, các tòa thành thường được xây dựng ven các dòng sông chính mỗi vùng đất. Thành Lồi với sông Hương ( Thừa Thiên – Huế); thành Trà Kiệu với sông Thu Bồn( Quảng Nam); thành Châu Sa với sông Trà Khúc (Quảng Ngãi); thành Chà Bàn với sông Kon( Bình Định); thành Hồ với sông Đà Rằng ( Phú Yên).... Về vị trí các thành được xây dựng chủ yếu ở phía Nam, phần hạ lưu các dòng sông, nơi tĩnh của dòng chảy với lòng sông rộng và sâu, có đủ lượng nước để tàu thuyền vào ra từ cảng thị lên các tòa thành thuận lợi cả về mùa mưa và mùa khô khi dòng sông cạn kiệt. Nghiên cứu một số tòa thành cho thấy, thành được xây dựng ở vị trí giao thoa hai nguồn nước ngọt và mặn vào mùa khô. Do cấu tạo dòng sông miền trung ngắn và dốc nên về mùa khô, lượng nước thấp, nước biển xâm thực sâu vào nội địa. Địa điểm xây các tòa thành được chọn ở địa điểm này để giao thông thủy thuận lợi cả vào mùa khô dựa vào nước biển. Vị trí này thể hiện rõ nhất khi nghiên cứu thành Lồi trên hệ thống sông Hương( Thừa Thiên – Huế). Theo tài liệu lịch sử cho biết các tòa thành tường thường được xây bằng gạch, quy mô to lớn với nhiều công trình kiến trúc bên trong.Thành Điển Xung( Simhapura- Trà Kiệu) kinh đô Lâm Ấp “ thành xây bằng gạch, cao hai trượng, ở trên xây bức tường gạch cao một trượng, có đục những lỗ vuông. Trên gạch thì lát ván, trên ván làm gác, trên gác có mái.Ở trên mái lại dựng lầu, cái lầu cao là 6- 7 trượng, thấp là 4 –5 trượng… Trong thành có thành nhỏ chu vi là 30 bộ. Cung tranh điện ngói không mở cửa về hướng .nam; nhà dài ở hai đầu, nóc theo chiều nam bắc… Điện mở cửa hướng đông, nào mái bay con giống, nào cửa xanh thềm đỏ, nào xà dài dui vuông,phần nhiều làm theo lối cổ. Cột ở gác, điện cao hơn thành một trượng rưỡi. Tường trát phân trâu, màu sắc xanh nhoáng. Nhà nách chạy quanh…Nhà có hơn 50 khu liền hồi liền nóc, thềm mái tiếp nhau. Đền thần tháp quý lớn nhỏ 8 miếu; dài nhiều tầng, bình tựa tháp phật….”; “ Cung vua Chàm thì rộng, cao, lợp ngói có hoa văn, có tường đất bao quanh. Hoàng cung được quét vôi ” . Các cuộc điều tra khảo sát, khai quật khảo cổ học các tòa thành cho thấy,quy mô thành to lớn, được xây dựng quy chỉnh thường có hình chữ nhật nằm dọc theo dòng chảy con sông, các góc thành bắt góc vuông vức.  Tường thành được đắp đất cao vững chắc, bên ngoài dốc đứng, bên trong xoải xuôi, trong thành thường có các tường ngăn phân thành các khu khác nhau. Khai quật trong lòng thành tại các thành Trà Kiệu. thành Trà ( Bình Định); thành Hồ ( Phú Yên)cho thấy ở đây có hai loại hình kiến trúc, kiến trúc cung điện có mặt bằng kiến trúc hình chữ nhật, quy mô lớn dài, với dấu vết móng còn lại cùng vật liệu xây dựng như gạch, ngói ống, ngói âm dương, đầu ngói ống mặt hề, ngói mũi lá.... Kiến trúc tôn giáo có mặt bằng hình vuông, hệ thống tượng thờ, bệ thờ nằm trong kiến trúc. Với không gian vùng đất không rộng, tính biệt lập cao thành ở đây có chức năng là trung tâm hành chính văn hóa giữ vai trò chủ đạo, chức năng quân sự giữ vai trò thứ yếu. Do đặc thù của các tòa thành có vai trò kinh đô trong lịch sử,  trong thành còn có các công trình kiến trúc tôn giáo. Cuộc khai quật năm 1927 tại Trà Kiệu đã phát hiện nhóm kiến trúc tháp bị sụp đổ với nhiều hiện vật điêu khắc có giá trị như Bệ thờ Trà Kiệu, các tượng thờ vv.. Cuộc khai quật thành Trà ( Bình Định) tìm tháy trong lòng thành ngôi đền thờ với nhiều tượng đất nung có giá trị  nghệ thuật.
 3. Hệ thống trung tâm tôn giáo.
Trung tâm tôn giáo là nhóm di tích không thể thiếu được trong mỗi vùng đất. Những địa điểm này thường gắn bó chặt chẽ với các tòa thành. Những trung tâm tôn giáo ấy có vai trò là “ Thánh Địa” trên vùng đất cố đô như Mỹ Sơn ( Quảng Nam) hay trung tâm tôn giáo của vương triều như Bánh Ít ( Bình Định); Ponaga ( Khánh Hòa); hay có thể là trung tâm tôn giáo của chính quyền quản lý vùng đất ấy như Chánh Lộ ( Quảng Ngãi); Hòn Mốc ( Phú Yên); PoKloong Giarai ( Ninh Thuận) vv...Vị trí xây dựng thường nằm phía trên thượng nguồn dòng sông, nơi định vị tòa thành, hay có thể quanh tòa thành thuận lợi cho hoạt động tôn giáo của vương triều hay chính quyền. Tùy theo chức năng của các trung tâm tôn giáo này mà các di tích được xây dựng, sử dụng trong thời gian khác nhau, số lượng, quy mô khác nhau. Khu di tích Mỹ Sơn là trung tâm tôn giáo quốc gia được xây dựng và sử dụng liên tục trong lịch sử kéo dài hơn một ngàn năm với trên 70 công trình kiến trúc được xây dựng, hoặc được xây dựng lại nhiều lần như Ponaga, hay một quần thể kiến trúc tôn giáo hoàn chỉnh như BánhIt.Sự hiện diện quyền lực của tôn giáo bên cạnh quyền lực chính quyền tạo nên một nhà nước vương quyền kết hợp chặt chẽ với thần quyền là hằng số xuyên xuốt trong lịch sử xã hội Champa, taọ nên bản sắc văn hóa tộc người theo thời gian.
Như vậy, có thể thấy, trong mỗi vùng văn hóa Champa có 3 trục quay quanh nhau gồm trục kinh tế ( cảng thị); trục quản lý xã hội ( thành) và trục tinh thần ( tôn giáo) tạo nên sức sống và bản sắc văn hóa. Ba trục này có mối quan hệ khăng khít hữu cơ, thống nhất với nhau cùng vận hành, tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử tộc người Chăm.Về mô hình có thể thấy những giai đoạn sớm ba trung tâm tạo nên văn hóa Champa chạy dọc theo tuyến đông- tây theo các dòng sông từ biển lên rừng như mô hình Cảng Đại Chiêm – thành Trà Kiệu – thánh địa Mỹ Sơn ( Quảng Nam), hay cảng Cửa Đại – Thành Hồ- Trung tâm tháp Hòn Mốc ( Phú Yên)
Những giai đoạn sau, đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử, mô hình ba trung tâm này được thu gọn với cảng – thành – trung tâm tôn giáo mà thành và trung tâm tôn giáo liền kề nhau như Cảng Thi Nại – Thành Chà Bàn – Trung tâm tôn giáo Thập tháp ( trong đó Thập tháp được xây dựng sát  ngoài tường thành Chà Bàn)
Dù thời gian có thay đổi nhưng mô hình 3 trung tâm luôn tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử. Vị trí 3 mô hình có thay đổi nhưng điểm chung là 3 trung tâm đó đều lấy các dòng sông làm trục chính không gian tồn tại của mình.  Ba trung tâm là sức sống của văn hóa Champa, chính vì thế có thể nói văn hóa Champa là văn hóa sông – biển trong đó yếu tố biển nổi trội.

Trong quá trình tồn tại  và phát triển, văn hóa Champa luôn có tính thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ người Chăm quản lý. Trong không gian chung, mỗi vùng có không gian văn hóa riêng, cách thể hiện riêng độc đáo. Từ cội nguồn văn hóa, chủ nhân là một tộc người thống nhất, tín ngưỡng bản địa tương đồng, ảnh hưởng chung từ một nền văn hóa Ấn Độ, cho nên quá trình phát triển văn hóa mỗi vùng tuy có sự khác nhau nhưng đều có tính thống nhất cao, hình thành nên bản sắc văn hóa Champa trong lịch sử./.