Thứ Ba, 28 tháng 10, 2014

CHUYỆN GẪU 7 VÀ THƠ CON CÓC
Huế với điện gác rêu phong, soi bóng nghiêng ven dòng sông Hương thơ mộng. Huế nơi ao ước của bao người muốn một lần đến thăm cố đô cổ kính. Anh bạn tôi cũng thế, một người hoài cổ xa xăm, anh có thể đứng hàng tiếng đồng hồ ngắm mái đao đình cong vút, hay ngẩn ngơ trước pho tượng Phật diệu kỳ. Anh khát khao đến Huế một lần và  đi thật. Sau những ngày chiêm ngưỡng Hoàng cung, thăm những lăng tẩm uy nghi, thơ mộng, anh dành hẳn một ngày thăm sông Hương. Sông Hương mùa ấy nước trong xanh như ngọc, chảy êm đềm dưới những tán cây cổ thụ xanh thẫm. Tối cuối cùng ở lại Huế, anh xuống bờ sông Hương, muốn đi thuyền trải nghiệm sự hư ảo của dòng sông. Anh gọi đò thuê đi. Chủ đò là một  trung niên trông khá đôn hậu.
 - Chú thuê đi về hay thuê ngơi.
- Thuê ngơi thì bao nhiêu? anh hỏi lại.
- Ngơi mình hay ngơi đôi?
- Ngơi mình.
- Chú cho 300 ngàn.
Anh thầm nghĩ ngủ khách sạn cũng 300, mình thử ngủ thuyền một đêm xem sao. Anh xuống thuyền, con thuyền chèo ngược sông Hương về thượng nguồn. Người lái đò bảo: đi ngược lên trên rồi thả xuôi, tới sáng là thuyền tới đập Vĩ Dạ đó chú.
 Đập Vĩ Dạ là con đập ngăn sông Hương, nối nội thành đi sang huyện Phú Vang. Con thuyền lướt nhẹ trên dòng sông yên tĩnh, những dãy núi mờ xa, phủ màn sương nhạt như ngái ngủ. Hơi nước mát từ sông bốc lên cùng sự tĩnh lặng khiến anh băn khoăn  sao tên gọi là sông Hương. Chợt mùi thơm nhẹ nhàng thoảng qua, mùi của loài hoa gì đó, hương phảng phất, diụ êm. Có lẽ tên gọi sông Hương là từ những mùi thơm thiên nhiên ấy. Thuyền chồng chành khó ngủ, con đò cứ đi rồi trôi xuôi lúc nào không biết. Canh bốn, canh năm vừa chợt mắt. Ai hô vi lôn không( Ai hột vịt lộn không). Tiếng cô gái bán rao thoảng dài theo gió, lẩn trong màn sương mờ đục trước bình minh. Thuyền đã ghé  bên đập Vĩ Dạ. Anh cám ơn người chủ thuyền rồi  về.
Kỷ niệm về chuyến đi thăm Huế có nhiều, nhưng sâu đậm nhất với anh là đêm ngủ đò. Nhớ Huế anh làm bài thơ :
Chưa đi thì nhớ Huế thương.
Đi rồi thấy Huế cũng thường thế thôi
Có khác là khác chỗ ngơi
Mình ngơi dưới đất, Huế ngơi trên thuyền.
Anh bảo: ông chủ thuyền ấy gọi ngủ là ngơi.Không biết đó là tiếng Huế hay ở đâu đến Huế./.



THƠ CON CÓC  1
MÚA CHĂM
Em đứng múa
Ngàn năm vẫn thế
Đôi chân trần...
No nắng hoàng hôn
Tháp nghiêng
Em múa nghiêng
Bàn tay nghiêng che mặt
Đôi mắt buồn, thấm đẫm thời gian
Apssara
 điệu múa hoan ca
Tưởng lãng quên
 ngờ đâu quay lại
Líu ríu chân...
 đưa anh về lễ hội Ka Tê./.
                           KaTê 2014
CHUYỆN GẪU 6

THƠ CON CÓC
Chuyện xưa kể lại: 
Ngày xưa ở một vùng nọ, có bốn chàng khóa sinh, tự coi mình là tài giỏi. Sự tài giỏi ấy đến nỗi đi thi năm nào cũng trượt. Thấy mình không có số "bảng vàng bia đá" mấy người đổi nghề làm thày dạy học, từ đó lại càng coi thiên hạ không vào đâu.Họ gặp nhau, tán tụng tâng bốc lẫn nhau, chê bai  người khác, dương dương tự đắc tự coi mình là cự phách văn chương. Một hôm trời mưa, bốn thày rủ nhau đến một quán rượi. Chén chú chén anh, chợt nảy ý làm thơ. Bầu rượi túi thơ mới là người tao nhã.Họ đồng lòng cùng làm chung một bài thơ để thiên hạ biết tài. Ngó quanh quất tìm chủ đề,  nhìn thấy một con cóc ngồi trong hang. Họ đồng lòng làm thơ chủ đề về con cóc. Thày thứ nhất, sau khi  nhấp chén rượi trổ tài xuất khẩu thành thơ: 
Con cóc trong hang.
Thày thứ hai gật gù khen được. Thơ tả chân thế là nhất đấy. Nâng cốc rượi mừng thi tứ. Con cóc bấy giờ từ trong hang nhảy ra. Thày thứ hai bật câu thơ tiếp nối:
Con cóc nhảy ra.
Hay! các thày cùng đồng thanh reo lên. Thơ thày vận ý, vận lời hay tuyệt, đúng chủ đề, đúng thể thơ. các đệ xin bái phục. Chúc mừng thày. Họ lại chạm cốc nhau. Con cóc nhảy ra, ngồi yên một chỗ giương mắt nhìn bốn người. Ngoài trời mưa vẫn rả rích. Thày thứ ba nheo nheo con mắt nhìn con cóc. Con cóc ngồi yên không động đậy, mắt chớp chớp nhìn  thày. Chợt thày vỗ đùi đánh đét, cười kha khá: các thày nghe tôi đọc tiếp đây: 
Con cóc ngồi đấy.
Thày thứ tư không cần phải nghĩ ngợi đọc tiếp luôn:
Con cóc nhảy đi.
Chả là các thày mải cười không để ý, con cóc thấy tiếng cười to quá nhảy vội đi, thày chớp được cơ hội đọc luôn không cần suy nghĩ.
Thế là mỗi người đủ một câu thơ, thành một bài thơ hoàn chỉnh về con cóc. Các thày lại " liên thủ"( chạm cốc) mừng cho câu thơ hay của mình. Một bài thơ mà tả được đủ cả nơi sinh sống, động tác vận động nhảy  ra, nhảy đi, ngồi đấy ... quả là "liên thi" Chỉ những bậc tài năng mẫn cảm mới nhận được. Ngôn ngữ sống động, liên tưởng của những bậc phi phàm. Bốn câu thơ ghép lại thành bài thơ con cóc:
Con cóc trong hang
con cóc nhảy ra
con cóc ngồi đấy
 con cóc nhảy đi
Các thày bảo  nhau bài thơ hay thế không truyền cho thiên hạ biết quả là phí uổng. Họ xin chủ quán một tờ giấy Hồng điều, chép bài thơ con cóc dán lên tường để mọi người cùng thưởng thức. Kiệt tác thơ ấy được lưu truyền cho đến ngày nay. Sau này mỗi khi có bài thơ nào được sáng tác quá "tuyệt tác" người đời thường gọi đó là thơ con cóc.
 Sau này thiên hạ còn truyền lại một bài thơ về bốn anh khóa sinh  lên kinh dự thi vào thăm chùa có bài thơ vịnh về cái chuông chùa. Bài thơ quá hay, các anh tự thấy " tinh anh phát tiết ra ngoài" thường hay chết yểu nên sợ quá nhờ Sư chù trì chùa đi mua hộ bốn cái quan tài, nghĩ rằng khi bài thơ hay được lan truyền đến mọi người biết thì các anh sẽ chết. Nhà sư hỏi vì sao, các thày khóa đọc lại 4 câu thơ vừa làm, nhà sư bèn đi mua về  5 cái quan tài. Các thày khóa hỏi vì sao. Nhà Sư nói, trước khi vào chùa, kẻ tu hành này cùng theo nghiệp văn chương, những sau thấy mình làm thơ dở quá nên bỏ vào chùa  ăn mày  cửa phật và có lời nguyền: Ngày sau nếu tôi gặp người nào làm thơ dở hơn thơ tôi thì tôi sẽ chết. Chắc ngày hôm nay là đến hạn của mình.
Kẻ hậu sinh này  chắc cũng như mấy anh thày khóa,  tập tọng làm thơ, nay  xin mở mục thơ con cóc để đọc cho vui sánh cùng CHUYỆN GẪU.


















Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

CHUYỆN GẪU: 5
TÀU ĐIỆN Ở HÀ NỘI
Trong các phương tiện di chuyển, giao thông ở nước ta có nhiều loại gọi là tàu:
- Bay trên trời gọi là tàu bay
- Chạy dưới sông gọi là tàu thủy.
- Chạy trên đường ray gọi là tàu lửa
- Xe tăng chiến đấu gọi là tàu bò
- Chạy trên đường ray nhưng bằng điện gọi là tàu điện
- Lặn dưới nước gọi là tàu ngầm vv... Lắm loại tàu.
Có người hỏi, người ta hay hoài niệm về một Hà Nội cổ kính  xưa là có tiếng tàu điện chạy với chuông reo leng keng. Tàu điện ở Hà Nội bây giờ không còn nữa. Vậy  Tàu điện xưa thế nào?
Tàu điện là phương tiện giao thông xưa được sử dụng khá phổ biến, bình dân trong khu vực nội thành. Tàu điện do người Pháp xây dựng từ trước. Sau này tiếp quản thủ đô, tàu điện vẫn được sử dụng cho đến những thập kỷ cuối của thế kỷ XX.
Gọi là tàu vì toa chở khách, hàng hóa được đóng như toa tàu lửa nhưng nhỏ hơn, ngắn hơn. Toa đầu máy phía trên có cần móc vào đường dây điện  giăng phía trên để kéo tàu chạy. Tàu có bánh sắt như tầu hỏa, chạy trên đường ray. Đầu toa là buồng điều khiển của người lái tàu. Tàu chạy thường có hai hoặc ba toa: gồm toa đầu kéo và một hoặc 2 toa chở khách không có buồng lái phía sau. Thân toa bên ngoài, phía dưới sơn màu đỏ nhạt, nửa trên thường sơn trắng và có những ô cửa kính để đóng mở, lên xuống theo thân tàu che mưa nắng. Trong lòng toa có hai hàng ghế  gỗ nan đặt dọc  theo chiều dài toa để mọi người đi tàu ngồi. Giữa là lối đi. Hai đầu toa có hai cửa lên xuống, bậc thấp rất thuận lợi. Sau này có một số toa cải tiến đặt ghế ngang nhưng không thuận tiện lắm.
Hà Nội có 3 đường tàu điện chính. Lấy Bờ Hồ Hoàn Kiếm làm trung tâm nơi có nhà ga ( Nhà ga mà sau này cải tạo thành tòa nhà thương mại bây giờ mà người Hà Nội hay gọi là Hàm cá Mập) làm tiêu chí tính thì có những tuyến sau. 
- Từ Bờ Hồ đi chợ Mơ theo các phố Đinh Tiên Hoàng- Phố Huế- Bạch Mai bây giờ và kết thúc trước cửa chợ Mơ. Nơi đây có đường ray tránh, đổi đầu tàu kéo các toa. 
- Từ Bờ Hồ đi Yên Phụ và Phố Thụy Khê. Tầu đi theo các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, ... đến đầu phố Hàng Đậu( chỗ tháp nước hiện còn) chia làm hai ngả. Một từ Hàng Đậu, theo phố Quán Thánh, Thụy Khuê về đây có xưởng của Nhà xe Điện. Đây là nơi tập kết của các tàu điện về tối đỗ ở đây.Một từ chỗ rẽ này chạy theo Hàng Than lên dốc Yên Phụ chạy đến cuối đường Yên Phụ( đầu đường Nghi Tàm bây giờ.  Đây là bến cuối có đường ray phụ để tàu quay đầu.
- Từ Bờ Hồ đi Cầu Giấy và Hà Đông. Tàu đi từ Bờ Hồ theo các phố Hàng Bông đến Cửa Nam theo đường Nguyễn Thái Học đến góc bắt tường Văn Miếu rẽ chia làm hai nhánh. (Góc tường Văn miếu xưa có cây gạo cổ thụ được người xưa thờ cúng hương khói quanh năm với nhiều truyền thuyết linh thiêng về ngôi miếu xây ở đây. Nay đã dỡ bỏ). Một nhánh đi theo phố  Hàng Bột( Nay đổi tên là Tôn Đức Thắng?) xuống Ô chợ Dừa, theo đường Nguyễn Trãi tới Đầu  cầu Hà Đông bên bờ sông Nhuệ( Trước cửa khách sạn sông Nhuệ hiện nay). Ở đây có đường ray tránh để tàu quay đầu.
Với đường phố hẹp, ray đường tàu được bố trí khá khoa học. Các tuyến phố Hàng Ngang, Hàng Đào... Quán Thánh....  Phố Huế, Bạch mai đường tàu đặt chính giữa chia hai bên bằng nhau. Hoặc được đặt bên một mép đường như Yên Phụ, Nguyễn Trãi hay lượn cong theo bờ hồ Hoàn Kiếm
Mặc dù không nhiều tuyến nhưng giá trị giao thông của tàu điện khá cao liên thông nhau đi từ đầu đến cuối thành phố  thuận lợi. Ngoài vận chuyển hành khách, tàu còn chở hàng hóa từ các vùng ngoại thành  vào nội thành.  Tuyến Mơ- Bờ hồ chở các gánh rau leo lên tàu vào, tuyến Yên Phụ chở các loại hoa từ Nghi Tàm, Yên Phụ đến. Tuyến Hà Đông, Cầu Giấy chở nông sản, hoa quả . Toa cuối đoàn tàu thường chở hàng hóa, người đi chủ yếu ngồi toa trên. Khi hết hàng, quanh gánh thường được các bà, các chị treo cuối toa cho gọn gàng. Tốc độ của tàu không cao lắm, khoảng 10km đến 15 Km/ h.Do đường đi chung với các phương tiện giao thông khác nên khi gặp chướng ngại vật, hay  sắp đến bến đỗ tàu thường kéo chuông kêu Leng keng báo hiệu. Người lái tàu và người bán vé lúc đầu còn mặc đồng phục, sau do chiến tranh nên ăn mặc cũng thay đổi cho phù hợp. Giá vé các tuyến tàu đầu tiên là 5xu, sau đó lên một hào. Nếu có quang gánh xếp rau, hoa quả thì tính thêm một vé. Do thuận lợi giao thông nên số người đi tàu điện khá đông: học sinh, công nhân, viên chức, nông dân. Nhiều người từ các tỉnh về Hà Nội chơi thường sử dụng phương tiện này đi thăm thú thành phố.
Đi tàu điện có thú vui, tốc độ  không nhanh, bậc tàu thấp dễ lên xuống nên người già đi lại cũng thuận lợi, giá vé bình dân nên người đi tàu đông, an toàn. Học sinh đi học thường lấy nhảy tàu làm trò vui nhưng cũng ít khi xảy ra tai nạn. Nhưng cũng có người mất chân vì nhảy, bánh tàu nghiến phải.
Có hai chuyện đáng nhớ về tàu điện:
- Sau năm 1973 và năm 1975  sau lễ duyệt binh mừng chiến thắng có xe tăng( tàu bò) tham dự, do trọng tải  xe tăng lớn, một số nơi nền đất yếu đường ray tàu điện bị lún nên có khi tàu điện chạy những khúc quanh bị trượt bánh lao ra ngoài. Do tốc độ chậm nên cũng ít có tai nạn. Khi xảy ra sự cố tàu điện trật bánh lao ra ngoài đường ray, người Hà Nội bảo tàu bò húc nghiêng tàu điện.
- Một số đoạn đường Hà Nội hơi dốc, như từ bờ Hồ lên Đồng Xuân hay từ Hàng Đậu lên đê Yên Phụ, chỗ dốc Hàng Than, nếu gặp trời mưa phùn,nhất là vào mùa Xuân,  đường ray trơn, tàu cứ leo lên lại tụt xuống. Nhiều hôm phải đấu hai đầu tàu kéo và đẩy. Khi tàu lên hay tụt xuống người lái tàu lại kéo chuông leng keng báo hiệu để mọi người chú ý. Vì chuyện này, khi  gặp người nói chuyện không đâu vào đâu người ta lại hỏi nhau: Thằng ấy, con ấy có leng keng không. Nghĩa là chuyện ấy như chuông tàu điện Leng keng nhưng không biết đi lên hay đi xuống.
Do sự phát triển của kinh tế, sau này Hà Nội xuất hiện tàu điện bánh hơi, nhưng tàu điện bánh hơi ít để lại trong ký ức người Hà Nội. Rồi tàu điện dần biến mất, đường ray bị dỡ bỏ, toa xe bỏ đi. Tàu điện chỉ còn lại trong hoài niệm của người Hà Nội, thấm vào thơ ca, nhạc họa như một kỷ niệm đã qua. Thuật ngữ ăn nói Leng keng cũng hầu như biến mất./.










Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

CHUYỆN GẪU 4
LẮM ĐIỀU VÀ HAY NÓI
 Sau nhiều năm ra trường, hai anh bạn đã trở thành những nhà nghiên cứu ngôn ngữ lớn. Gặp nhau hỏi thăm chuyện gia đình.
Anh thứ nhất ca thán: Tớ lấy phải cô vợ lắm điều.
- Lắm điều là thế nào. Anh bạn hỏi lại.
- Lắm điều là cô ấy nói suốt ngày, nói mọi lúc, mọi nơi, mọi vấn đề. Lắm là nhiều; điều là các vấn đề. Bất kỳ chuyện gì cô ấy cũng đề cập đến, trong mọi không gian và thời gian của gia đình.
- Nội dung của lắm điều là gì?
- Là ca thán, chỉ bảo, đề nghị mọi lĩnh vực, công việc trong gia đình.
- Mọi việc có tốt không.
- Thì cũng tốt, cuộc sống ổn định, con cái chăm ngoan... Nhưng chỉ phải cái tội lắm điều.
Thế còn ông thế nào?. Người bạn hỏi lại.
- Cô vợ tớ được cái hay nói.
- Thế thì tốt vui cửa vui nhà.
- Vui cái nỗi gì, tai họa chung thân đấy ông ạ. Này nhé cô ấy hay nói ríu rít cả ngày, nói hay lắm...anh ơi em 
muốn, anh ơi em thèm, anh ơi anh giúp em, anh ơi cố lên.... Nói như đài, nhưng cô ấy chẳng làm gì, không động chân, động tay, chỉ đề ra đường lối, mọi việc nhà đổ lên đầu mình, vất vả cả ngày chỉ để nghe cô ấy nói.Tôi sợ nhất trên đời này là những người nói hay. Hay nói và nói hay là một thảm họa.
-Bây giời ai chẳng nói hay, lại hay nói, gọi là độc diễn đấy. Nói hay và hay nói là đỉnh cao trí tuệ của thời nay.
- Thôi con lạy bố, cứ lắm điều đi mà được việc, còn hơn nói hay mà chẳng đâu vào đâu.
Nghe hai ông bạn kể chuyện, tôi chẳng hiểu gì, vốn dốt về ngôn ngữ.Trong cuộc sống lại có: Lắm điều  hay hơn nói hay. Xin kể lại để mọi người cùng biết.
 Như ông bà ta bảo" Nói thật mất lòng". Lắm điều nhưng là sự thật, còn hơn nói hay mà giả tạo?
Nhân chuyện này, xin kể về câu chuyện ngôn ngữ trong tiếng Việt:
Có một anh bạn Nghiên cứu sinh về tiếng Việt. Để thuận lợi trong giao tiếp anh xin trọ trong xóm của những người dân lao động để làm phong phú thêm ngôn ngữ của mình. Hàng ngày tiếp xúc anh học thêm được nhiều từ ngữ lạ không có trong từ điển.
Một hôm anh nghe mấy bà hàng xóm gọi nhau:
Ra chợ mua rau đi. Hôm nay rau rẻ thối.
Lần khác lại nghe thấy họ bảo nhau: Hôm nay ra mà mua cá, cá nhiều rẻ thối ra.
Ngày khác lại bảo nhau: Hoa quả hôm nay bán rẻ thối.
Anh không hiểu từ Thối, bèn tra từ điển, thấy chữ thối là bẩn thỉu(  chuối thối, thịt thối, lòng thối....thối nát vv...). Anh về hỏi lại thối là gì. Mấy bà hàng xóm giải thích rẻ thối là rẻ lắm, rẻ lắm lắm ấy. Anh ghi vào sổ tay: thối = lắm lắm.
Sau kỳ học, hôm bảo vệ Luận văn, anh muốn cảm ơn Hội đồng, những Giáo sư  đáng kính. Để chứng tỏ tiếng Việt của mình khá thuần thục, phong phú anh nói.
Để bảo vệ  xuất sắc Luận văn ngày hôm nay. Một lần nữa tôi xin cảm ơn Hội đồng các Giáo sư Thối Thối. ( Thật ra anh muốn nói tôi xin cảm ơn Hôị đồng các Giáo sư lắm lắm)
Khốn nạn! Khổ thân cho ngôn ngữ Việt.















Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2014

LỜI BÀI HÁT HAY MÀ TÔI THÍCH
Hà Nội và tôi
Nơi tôi sinh Hà Nội 
Ngày tôi sinh một ngày bỏng cháy 
Ngõ nhỏ phố nhỏ, nhà tôi ở đó 
Đêm lặng nghe trong gió 
Tiếng sông Hồng thở than. 

Những ngày tôi lang thang 
Tôi mới hiểu tâm hồn người Hà Nội 
Mộc mạc thôi mà sao tôi bồi hồi
Mộc mạc thôi mà sao tôi nhớ mãi 
Tuổi thơ đã đi qua không trở lại 
Cháy hết mình cánh phượng nhẹ nhàng rơi. 

Hà Nội ơi! Hà Nội ơi ! 
Cái ngày tôi chia xa Hà Nội 
Giờ ra đi mới thấy lòng tiếc nuối 
Những kỷ niệm một thời nông nổi 
Cứ thôi thúc hoài, khắc khoải nơi trái tim. 

Hà Nội ơi ! Hà Nội ơi! 
Khát vọng trong tôi, tình yêu trong tôi 
Thời gian có bao giờ phôi phai 
Như nước Hồ Gươm xanh vời vợi
Như hương hoa sữa nồng nàn đắm đuối 
Bước chân tôi qua bao nẻo đường
Vẫn mong một ngày trở về quê hương. 

Ngõ nhỏ, phố nhỏ nhà tôi ở đó 
Trong giấc mơ tôi vẫn thầm mơ...

                                            Lê Vinh
CHUYỆN GẪU 3

Hôm vừa rồi ngồi uống cafe với mấy ông bạn văn nghệ sĩ. Trong câu chuyện, một anh nhạc sĩ kể:

- Các cậu có biết Nhạc sĩ Thế Song ốm không.

Không. Mọi người trả lời.
Ông ấy ốm thế nào. Một người hỏi lại.
Anh kể tiếp ông ấy ốm  nằm viện mà chưa thấy ai vào thăm, chỉ có mấy anh bạn Nhạc sĩ đến thăm nhau. Ông ấy sáng tác nhiều bài hát hay, trong đó có bài: Nơi đảo xa mà bây giờ sử dụng nhiều, được coi là đốt lửa tinh thần dân tộc đấy.Thế mà chưa thấy cơ quan đoàn thể nào quan tâm.
Mọi người bình luận về sự thiệt thòi của các nhạc sĩ. Những người có đóng góp như vậy nên được xã hội và các đoàn thể lưu tâm, nhất là lúc ốm đau. Dù chỉ là động viên tinh thần.
Nghe  bình luận một anh nói:
- Các ông nói thế nào chứ. Nhà nước cho đi học cả đời, sáng tác được mỗi một bài hay, động một tí lại kể công?
Thật khó hiểu về những nguồn dư luận trái chiều.....