Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

ĐẠI THÁNH  TỪ ĐẠO HẠNH- MỘT HIỆN TƯỢNG VĂN HÓA VIỆT NAM
                                                                        
I Sơ lược về tinh thần văn hóa Việt 10 thế kỷ đầu công nguyên.
 Sau năm 43, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị đàn áp, nước ta rơi vào thời kỳ mất độc lập tự chủ.  Trong điều kiện đó, bên cạnh  truyền thống văn hóa được xây dựng từ thời dựng nước văn hóa Đông Sơn  thì trong điều kiện lịch sử mới nhiều thành tố văn hóa mới  từ bên ngoài hội nhập vào xã hội Việt tạo nên diện mạo mới cho bản sắc văn hóa dân tộc Việt.
1. Trước hết sự du nhập của Phật giáo  từ những thế kỷ đầu, tự cội nguồn giáo lý có sự tương đồng với tín ngưỡng dân gian, sự du nhập có tính hòa bình. Phật giáo  thích nghi hòa đồng với đời sống tinh thần của người dân cho nên đã hình thành nhiều trung tâm phật giáo, trong đó nổi trội với trung tâm Phật giáo Luy Lâu nổi tiếng,  sau trở thành trị sở của thiền phái Tỳ ni đa lưu chi  và duy trì theo suốt chiều dài lịch sử 10 thế kỷ đầu công nguyên. Phật giáo Thiền phái này ngoài Phật tính còn có các yếu tố khác đan xen. Tượng thờ trong Phật điện lấy thờ Phật Tứ Pháp làm trọng tâm. Bên cạnh đó có yếu tố của Ấn Độ giáo: thờ biểu tượng Linga được coi là Đức Thạch quang. Hoạt động tín ngưỡng có yếu tố thần bí như truyền thuyết kể vị sư Khâu Đà La  đứng tu thiền 1 chân ( Độc Cước) hay khi gặp trời đại hạn đập cây gậy cây Tích trượng mấy cái là có mưa liền. Mặc dù vậy yếu tố Phật vẫn nổi trội với sự kiện,  năm 1033 “ Ở chùa Pháp Vân thuộc Cổ Châu, có nhà sư nói, trong chùa phát ra mấy đường ánh sáng. Rồi theo chỗ ánh sáng ấy mà đào lên thì được một cái hộp bằng đá, trong hộp bằng đá có cái hộp bằng bạc, trong hộp bằng bạc có cái hộp bằng vàng, trong hộp bằng vàng có cái bình bằng Lưu Ly, trong cái bình bằng Lưu Ly có Xá Lợi Phật”. Như vậy suy ra  chiếc hòm đá này có trước thế kỷ XI.  Cuộc khai quật khảo cổ học tại Tháp Nhạn ( Nghệ An) năm 1986 đã tìm thấy hình ảnh hòm Xá Lợi này trong lòng nền tháp.
- Cùng với thiền phái Tỳ Ni đa lưu chi thì một dòng Phật giáo Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc truyền sang cùng gia nhập vào xã hội tinh thần Việt Nam với trung tâm là chùa Kiến Sơ ( Gia Lâm – Hà Nội). Hai dòng Phật giáo này đều hội tụ ở vùng đất xứ Bắc với trung tâm chính trị kinh tế văn hóa Luy Lâu. Thời Lý,  nhà sư Thông Biện đã dẫn truyện Đàm Thiên Pháp sư cho biết “ Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên trúc. Khi Phập pháp đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu đã có tới 20 ngôi bảo tháp độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 quyển kinh rồi”.
Vào thế kỷ VI sau cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn, nhà nước Vạn Xuân độc lập  được thành lập  thì Phật giáo đã giữ vai trò quan trong trong đời sống chính trị, Vua cho xây dựng chùa Trấn Quốc.
Như vậy có thể thấy 10 thế kỷ đầu công nguyên phật giáo đã có mặt và lan tỏa khá nhiều vùng trong cả nước với nhiều chùa tháp ; Phật giáo đã trở thành một lực lượng tinh thần với đông đảo cơ sở vật chất,  hình thành nên một “quyền lực mềm” trong đời sống xã hội.
2. Nho giáo
Nho giáo ra đời sớm ở Trung Quốc và coi Khổng Tử là người sáng lập. Nho giáo theo chân các nhà cai trị có mặt sớm tại nước ta. Người được vinh danh nhất là Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp “ khi còn ít tuổi ..du học ở kinh đô nhà Hán....chuyên trị sách Tả Thị xuân thu, có làm chú giải; được cử Hiếu Liêm, bổ làm Thượng Thư Lang... làm Thái Thú Giao châu” được khen là “ Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị... những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn”. Sĩ Nhiếp đã truyền bá nho giáo khá sâu rộng trong thờ kỳ cầm quyền ( 186 – 226) tạo nên tầng lớp nho sĩ  buổi đầu và sau này được tôn là “ Nam giao học tổ”. Mặc dù là nho gia nhưng Sĩ Nhiếp vẫn theo đạo giáo “ Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường; người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người... ” “ Trước vương ốm, đã chết đi 3 ngày, người tiên là Đổng Phụng cho một viên thuốc hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay động, một chốc lát mở mắt động tay sắc mặt bình phục dần. Hay  “ tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại lấp lại, người địa phương cho là thần làm miếu để thờ gọi là Tiên Sĩ Vương”.. Sau Sĩ Nhiếp là các thái thú Tích Quang, Nhâm Diên ( năm 231) “ dựng nhà học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa”
Hiện tượng Sĩ Nhiếp, Tích Quang, Nhâm Diên đã cho thấy  xã hội Việt Nam hình thành tầng lớp nho giáo. Một số nho gia đã kết hợp với đạo giáo hình thành nên hệ tư tưởng chi phối đời sống tinh thần trong những thế kỷ đầu,  đặc biệt trong tầng lớp quan lại hình thành nên mối quan hệ Nho – Đạo gắn bó chặt chẽ với nhau.
3. Đạo Giáo:
 Đạo giáo có mặt sớm trong xã hội Trung Quốc và Lão Tử được coi là người tiêu biểu. Theo chân các nhà cai trị , đạo giáo cũng sớm có mặt tại nước ta Thẻo truyền thuyết An Kỳ Sinh là vị đạo sĩ Trung Quốc đầu tiên có mặt tại nước ta, ông tu tại núi Châu Sơn hay còn gọi là Vũ Ninh Sơn, ông tu luyện được đến trường sinh bất tử. Tượng ông hiện còn tại núi Yên tử ( Quảng Ninh). Viên quan đầu tiên là Thứ sử Trương Tân ( năm 221)“ Tân thích việc quỷ thần, thường đội khăn đỏ gảy đàn, đốt hương , đọc sách Đạo giáo...”. Viên quan Thái thú  Giao Châu là Sĩ Nhiếp cũng liên quan đến đạo giáo. Đạo giáo Việt Nam theo Mâu Tử viết trong tác phẩm Lý hoặc Luận cho biết “  Hồi bấy giờ sau Linh Đế mất, chỉ có Giao Châu là còn hơi yên tĩnh. Nhân tài phương bắc đều về ở đây, phần nhiều theo phép thần tiên tịch cốc, trường sinh, đương thời có nhiều người theo học”. Hiện tượng  lan tỏa này khá mạnh mẽ đến nỗi năm 420 Thái thú Giao Châu là Tuệ Độ “ cấm thờ nhảm, sửa nhà học” Mặc dù vậy Đạo giáo vẫn phát triển. Theo Giao Châu bát huyện ký vào thời nhà Đường thế kỷ IX Giao Châu có 88 chùa miếu Phật giáo và 21 am của quán Đạo giáo. Những   câu chuyện về yểm bùa chú của Cao Biền hay những câu chuyện thần tiên khi đắc đạo đã cho thấy Đạo giáo có ảnh hưởng khá lớn trong xã hội Việt Nam. Những người tin theo đạo giáo thường là những nhà nho, nhiều người là quan cai trị. Nho – Đạo kết hợp nhau hình thành nên hệ tư tưởng của bộ máy đô hộ  phong kiến phương bắc với  Việt Nam.
Tinh thần văn hóa Việt 10 thế kỷ đầu công nguyên, bên cạnh những yếu tố tín ngưỡng văn hóa truyền thống, có thể thấy có 3 trục tinh thần Phật – Nho – Đạo giáo gia nhập và có mặt theo suốt tiến trình lịch sử dân tộc. Đây là những yếu tố nền tảng để hình thành nên hệ tư tưởng Việt Nam sau khi giành được độc lập.
 II. Sự hiện diện của các hệ tư tưởng, tôn giáo buổi đầu độc lập
Năm 938 đánh dấu cho sự độc lập của dân tộc với chiến thắng Bạch Đằng vang dội, vương triều Ngô được thành lập. Năm 939 “ vua bắt đầu xưng vương...đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục”. Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi “ bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi”.Trong chức vụ của quan lại triều đình có sự tham gia của  đại diện các tôn giáo” Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư, Trương Nga Mi làm Tăng Lục. Đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng Chân Uy Nghi” Như vậy triều đình đã xác định vị trí cao nhất của hệ thống Phật giáo và Đạo giáo trong cả nước.Những cuộc khai quật khảo cổ học tại kinh đô Hoa Lư ( Ninh Bình) đã tìm thấy gần một trăm cột  đá khắc kinh phật dưới triều Đinh đã cho biết hệ tư tưởng Phật giáo đã dần  chiếm vị trí quan trọng
 . Năm 981 Lê Hoàn lên ngôi đánh tan quân Tống xâm lược,  trong triều đình nhà Lê  có mặt tham gia của các nhà sư Phật giáo. Pháp sư Pháp Thuận thay vua đón sứ giả Lý Giác. Sư Khuông Việt qua bài thơ Lý Giác còn tán tụng “ thơ này tôn bệ hạ không khác gì vua Tống”, nhưng sự có mặt của các vị sư cũng chỉ là tham vấn của triều đình. Bên cạnh các nhà sư là Thái Sư Hồng Hiến “ Hiến là người Bắc thông hiểu kinh sử, thường theo các cuộc chinh phạt làm quân sư cũng là khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước có công lớn, vua tin dùng như tâm phúc”, đó là sự có mặt của nho giáo trong triều chính. Vua Lê Ngọa Triều lên ngôi “ sửa đổi quan chế và quan chế của các quan văn võ và Tăng đạo”, nhưng có lẽ các tôn giáo không được quan tâm đặc biệt là đạo Phật. Sử cũ ghi  “ vua róc mía trên đầu sư Quách Ngang, giả vỡ lỡ tay làm đầu sư bị thương chảy máu rồi cả cười” đã phần nào phản ánh tình trạng đó.
Kế thừa tinh thần phật giáo 10 thế kỷ đầu công nguyên, trải qua 3 triều đại độc lập bên cạnh kế thừa tinh thần Phật giáo thì Phật giáo gia nhập vào đời sống tinh thần xã hội khá sâu đậm các thiền sư đã có những bài thần chú đọc để cầu mưa, cầu tạnh, chữa bệnh, trừ tà, đoán tướng số, sấm thi... làm những công việc gần giống như đạo sĩ Đạo giáo.
Được sự ủng hộ của đạo Phật, Lý Công Uẩn lên ngôi, chuyển đô về Thăng Long, tạo nền tảng vững chắc cho nền độc lập dân tộc. Việc chuyển đô này, ngoài việc về trung tâm kinh tế, văn hóa đất nước thì cũng liên quan đến vùng đất trung tâm phật giáo xứ Bắc và xứ Đoài,  nơi quê hương có lực lượng phật giáo đông đảo ủng hộ ông, mở  một  thời kỳ mới cho Phật giáo phát triển cả về lượng và chất, được coi là Quốc Giáo . Các vua triều Lý đều quan tâm xây dựng chùa chiền, xin kinh Phật, , tổ chức nhiều đại lễ Phật giáo, hoàn thiện tổ chức, nhiều cao tăng được phong là Quốc sư.
 Bên cạnh Phật giáo Nho giáo cũng được chú trọng nhằm đào tạo nên hệ thống quan lại tổ chức quản lý đất nước, đỉnh cao là năm 1072 “ làm Văn miếu... Hoàng Thái tử đến học ở đây”, năm  1075” xuống chiếu tuyển Minh Kinh bác học và cho thi học tam trường.Lê văn Thịnh trúng tuyển cho vào hầu vua học”. Những người nho sinh thi đỗ tam trường đều được sử dụng làm quan trong hệ thống chính trị nhà nước.
Đạo giáo thời Lý cũng khá phát triển, cùng quan tâm  Phật giáo, các vua Lý cũng chú trọng Đạo giáo. Sử cũ ghi lại Lý Thái Tông đã từng có mối quan hệ mật thiết với giới đạo sĩ” Vua lấy áo ngự ban cho Trần Tuệ Long là đạo sĩ ở quán Nam Đế”. Vua còn cho phép các Đạo sĩ được nhận Ký Lục ở cung Thái Thanh như là sự thừa nhận của nhà vua với việc tu hành của các đạo sĩ. Vua Lý Thánh Tông khi Công Bình đánh được Chân Lạp xâm lược bờ cõi “ vua ngự đến cung Thái Thanh và Cảnh Linh và các chùa quán trong thành để tạ ơn Phật và Đạo đã giúp ngầm cho Công Bình đánh được giặc”. Năm 1135 “ vua  ngự đến quán Ngũ Nhạc để khánh thành tượng Tam Tôn bằng vàng”. Một đạo quán của Đạo Giáo ở Thăng Long.
 Sơ lược điểm qua vài sự kiện đã cho thấy đời sống tinh thần ở nước ta trong buổi đầu độc lập đã song hành cùng tồn tại 3 hệ tư tưởng Phật – Đạo – Nho trong đời sống tinh thần từ vua quan đến thường dân. Ba hệ tư tưởng này không bài xích nhau, cùng phục vụ cho sự phát triển và gìn giữ nền độc lập của dân tộc. Mặc dù có sự chú trọng khác nhau, sự nổi trội của  Phật giáo, nhưng có thể nói 3 tôn giáo này là 3 trục tinh thần chính của xã hội Việt Nam . Chính vì thế có nhà nghiên cứu cho rằng đây là thời kỳ “Tam giáo đồng quy”. Chính hoàn cảnh xã hội như vậy đã xuất hiện một hiện tượng lịch sử được nhiều tài liệu biết đến  đó là Đại Thánh Từ Đạo Hạnh.
III.Đại  Thánh  Từ Đạo Hạnh- Một hiện tượng văn hóa thời Lý.
Tài liệu lịch sử sớm nhất viết về Từ Đạo Hạnh là trong Thuyền Uyển tập anh viết về “Thiền Sư Đạo Hạnh”, tài liệu chỉ cho biết năm mất 1117 chứ không rõ năm sinh. Trong Việt Điện u linh viết về “ Sự tích đại thánh Từ Đạo Hạnh”. Đây là hai cuốn sách được biên soạn thời Trần(?) cách thời Lý không xa. Các cuốn sử cũ như Việt sử lược; Đại Việt sử lược thời Trần, hay bộ Đại Việt sử ký toàn thư sau này đều có vài dòng ghi chép về Từ Đạo Hạnh. Trong Lĩnh Nam chích quái cũng ghi chép một truyện riêng “ Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không”. Những ghi chép trên cho thấy có sự khác biệt cùng trên một nhân vật Từ Đạo Hạnh. Trong Thuyền Uyển tập anh ghi rằng Từ Đạo Hạnh là nhà sư thuộc thiền phái Tỳ Ni đa lưu chi. Trong Việt điện u linh  Từ Đạo Hạnh là Đại Thánh. Vậy nhận vật này là Phật hay Thánh.
Có thể chia tóm tắt sự tích Từ Đạo Hạnh thành ba thời kỳ qua các tài liệu ghi chép như sau:
 Thời kỳ thứ nhất: con người  học và thành đạo
 Theo các nguồn tài liệu Từ Đạo Hạnh sinh  ra trong gia đình Cha  là Từ Vinh theo đạo Phật làm chức Đô sát ngạch tăng quan đời Lý. Mẹ họ Tăng tên Loan tại xóm Nam làng An Lãng( làng Láng- Hà Nội). Khi sinh ra, Từ Đạo Hạnh đã lộ có khí cốt Tiên – Phật. Thời trẻ kết bạn với nhà nho tên là Phí Sinh, một đạo sĩ tên là Lê Toàn Nghĩa và một người đàn hát là Phạm Át. Từ Đạo hạnh  thi khoa Bạch Liên đỗ thứ nhất, nhưng không chịu ra làm quan. Như vậy Từ Đạo Hạnh học nho giáo, có mối quan hệ với Đạo giáo. Cha ông - Từ Vinh dùng Tà Thuật làm phật ý Diên Thành Hầu. Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên thiền sư dùng phép thuật đánh chết. Từ Đạo Hạnh tìm cách báo thù nhưng không được “ Từ đó ông quyết chí đánh đường sang Ấn Độ cầu học phép lạ để về báo thù cho cha. Đến nước Kim Xỉ gặp đường đi hiểm trở nên phải quay về. Theo sự tích Đại thánh Từ Đạo Hạnh trong Lĩnh Nam chích quái thì cùng đi còn có hai đạo hữu là Minh Không và Giác Hải. Hai vị này học được đạo về trước. Từ đạo Hạnh học được phép rút đất và lời thần chú Đà Ni. Từ Đạo Hạnh còn biết kiếp sau của mình “ tôi còn vướng trần duyên, sau này sẽ lại ra thế gian ở ngôi nhân chủ ” và biết “ sẽ không tránh khỏi bệnh nạn, các anh có duyên với ta, xin cứu cho” . Ba người cùng truyền phép thuật xuống nước, lên không, bắt rồng, hổ phải hàng phục; xuất quỷ nhập thần không ai lường được.Sau đó ông ẩn cư trong hang sâu núi Phật Tích, ngày ngày chuyên trì tụng Đại Bi tâm Đà La Ni đủ mười vạn tám nghìn lần. Sau khi thành đạt, sai khiến được thần linh “ Tứ trấn thiên vương” và  trả thù cha, mối tục lụy đã lắng. ông đi chơi khắp nơi rừng sâu để cầu ấn quyết. Ông đã vân du gặp cao tăng Trí Huyền ở Thái Bình, Sùng Phạm ở Pháp Vân ( Bắc Ninh) học hỏi” Từ đó pháp thuật ngày càng cao, lòng thiền ngày càng chính, khiến được các chim các thú đến đầy trước mặt để sai bảo. Dân ở quanh vùng ấy hễ có bệnh tật đến xin bùa dấu đều được khỏi luôn”.
Như vậy có thể thấy ông sinh ra trong ra đình  có nguồn gốc Tam Giáo, cha làm quan( nho học) theo Phật ( Tăng quan) nhưng biết dùng Tà Thuật ( Đạo giáo). Bản thân ông lúc nhỏ theo học ( Nho ) , mối quan hệ bàn bè cả Phật giáo và Đạo giáo. Khi tu luyện có Phật học ( tụng kinh), có phép thuật ( Đạo sĩ). Trong con người ông có đủ 3 yếu tố ( Nho – Phật – Đạo) và khi hành nghiệp trong đời cũng thực thi cả 3 yếu tố: tụng kinh, ấn quyết, chữa bệnh phù chú..... Ông là con người hội tụ điển hình của các hệ tư tưởng thời Lý. Tam giáo đồng quy trong một cá nhân cụ thể. Đây là điều kiện  có và đủ để Từ Đạo Hạnh thăng hoa thành “ Nhân chủ” của quốc gia Đại Việt độc lập.
Thời kỳ thứ hai:  hiện thân “ Tái sinh”
Theo các nguồn tư liệu cho biết để tạ ơn Lý Nhân Tông, Từ Đạo Hạnh “ hóa” vào cửa nhà Sùng Hiền Hầu để đầu thai lên làm vua. Ông biết việc của mình “ ta chưa hết nhân duyên với đời., lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian”. Căn dặn đệ tử: khi nào chết lại về làm chủ “ Tam thập tam thiên” nếu thấy thân nhân ta bị nát hết, bấy giờ ta mới vào cõi “ bất sinh bất diệt”. Ông “ đập đầu vào vách đá, nện chân lên bàn đá rồi hóa... Xác còn ở trong động, trải qua hàng tháng vẫn thơm tho, người làng lấy làm lạ để vào trong cái khám để thờ”
Từ Đạo Hạnh là hiện thân của Lý Thần Tông, lúc nhỏ “không cần nuôi mà chóng lớn, không cần học mà thông suốt, người đẹp mà có tài vô song”. Lớn lên trị vì đất nước (1128 -1138) được coi là vị vua “ tư chất thông minh, độ lượng nên việc sửa sang chính sự, dùng người hiền tài, thủy chung đều chính, nhiệm nhặt khúc nói, không có gì sai lệch... Song quá thích điềm lành, tôn sùng đạo Phật”. Ông là người “ tạ ơn Phật và Đạo ở hai cung Thái Thanh và Cảnh Linh cùng các chùa trong kinh thành xây sửa nhiều chùa, khánh thành 8 vạn 4 nghìn bảo thápvv... Cuộc đời của ông linh ứng với kiếp trước, năm 21 tuổi bị bệnh mình mọc đầy lông biến hình như con hổ và chỉ được đạo hữu Minh Không chữa khỏi theo lời nguyền kiếp trước.Khi ông mất “ chùa Thiên Phúc hiện lên khí thiêng lạ thường, ai trông thấy cũng phải kinh sợ”
Thời kỳ thứ 3 : Luân Hồi
 Gần 300 năm sau, khi quân Minh sang xâm lược nước ta( 1403 -1424) “ đến chỗ này thấy mùi hương thơm nức, tìm đến trong khám thấy Chân nhân một vị đạo nhân, nét mặt tươi như lúc sống. Người Minh cho là Tiên, mới rước sang chùa Hương Sơn làm phép hỏa táng.... nhặt lấy tro đắp thành tượng, bỏ vào khám cũ để thờ ở bên trái chùa Thiên Phúc”.
Hơn 300 năm sau( 1460 -1469) Trường Lạc Hoàng Hậu sai Thái úy Trinh Quốc Công lên động chùa Thiên Phúc cầu tự. Khi làm lễ có một phiến đá ngoài động bày vào, Trình Quốc công mang về trình Hoàng Hậu. Ít bữa sau, hoàng hậu mộng thấy rồng vàng vào bên sườn, rồi có mang sinh ra vua Lê Hiến Tông. Từ đó chùa càng nổi tiếng thiêng.... tới nay hương khói không lúc nào dứt”

Như vậy, nhân vật Từ Đạo Hạnh là một hiện tượng lịch sử, gắn liền với một địa danh lịch sử ( chùa Thiên Phúc) cùng chuỗi truyền thuyết lịch sử hình thành nên “một tuyến” trong văn hóa Việt Nam. Địa danh được gọi là chùa Thầy, nhân vật được coi là Thánh ( bùa chú, ấn quyết...), cuộc sống luân hồi ( Phật), hành xử như Tiên, tụng kinh như Phật. Hiện tượng Từ Đạo Hạnh hội tụ đủ các yếu tố văn hóa : Phật- Đạo – tín ngưỡng thờ cúng tiền nhân, được mở đầu từ thời Lý và kéo dài cho đến ngày nay là một điểm nhấn đặc sắc, phản ánh khá đầy đủ hệ tư tưởng, tín ngưỡng  của dân tộc, một truyền thống văn hóa mở làm nên bản sắc văn hóa dân tộc trong lịch sử./.

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

THÀNH Ô DIÊN TRONG LỊCH SỬ
I . Những ghi chép và vấn đề lịch sử:                           
         Thành Ô Diên là một tòa thành cổ được ghi chép sớm nhất trong cuốn Việt điện U linh thuộc thế kỷ XIV(1) trong mục Triệu Việt Vương và Lý Nam đế. “ Nam đế đã thôn tính xong Triệu Việt Vương bèn thiên đô đến Lộc Hoa và Vũ Ninh; phong anh là Xương Ngập làm Thái bình hầu giữ thành Long Biên; phong đại tướng Lý Tấn Đỉnh làm An ninh hầu giữ thành Ô Diên. Nam đế làm vua 30 năm thì chết”. Đây là tài liệu sớm nhất về tòa thành này. Các bộ sử về sau khi viết về triều đại độc lập đầu tiên của dân tộc ( Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân) đã đề cập chi tiết hơn về triều đại này và thành Ô Diên. Đại Việt sử ký toàn thư bộ sử chính thống của nhà nước độc lập viết vào thế kỷ XV chép: năm 571 sau khi đánh đuổi Triệu Việt Vương “ Vua họ Lý, tên húy là Phật Tử, là tướng người họ của Tiền ( Lý) Nam đế, đuổi Triệu Việt Vương, nối vị hiệu của Nam đế, đóng đô ở thành Ô Diên sau dời đến Phong Châu” (2)
Năm 602 “ Vua sai con của anh là Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên, Biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên( bấy giờ vua đóng đô ở Phong Châu)(3)
Bộ sử chính thống của triều đại phong kiến cuối cùng – nhà Nguyễn viết vào thế kỷ XIX cũng ghi: “ Phật Tử kéo quân về phía đông, đánh nhau với Triệu Việt Vương ở Thái Bình...Lý Phật Tử mới dời sang ở thành Ô Diên...”(4).
Từ nguồn tư liệu trên, sau này những nhà biên soạn lịch sử khi đề cập đến nhà Tiền Lý đều có ghi chép về sự kiện này và đề cập đến thành Ô Diên.
“ Phật Tử cất binh diệt được họ Triệu vẫn xưng là Nam đế, đóng đô ở Ô Diên, rồi rời ra Phong Châu. Ở ngôi được 47 năm ”(5)
“ Lý Phật Tử lấy được thành Long Biên rồi, xưng đế hiệu, đóng đô ở Phong Châu, sai Lý Đại Quyền giữ Long Biên Lý Phổ Đỉnh giữ Ô Diên” (6)
“ Năm 555 Lý Phật Tử tranh ngôi, Triệu Quang Phục chia nước làm hai lấy bãi Quần Thần ( nay là địa phận các xã Thượng Cát và Hạ Cát huyện Hoài Đức) làm giới hạn, để cho Lý Phật tử đóng đô ở thành Ô Diên( nay là làng Đại Mỗ huyện Hoài Đức) (7)
“Họ Lý đóng ở Ô Diên. Họ Triệu đóng ở Long Biên. Năm 571 Lý Phật Tử bất ngờ đánh úp Triệu Việt Vương chiếm toàn bộ quyền hành và đất đai...Năm 603 nhà Tùy tiến đánh Giao châu Lý Phật Tử cũng bố trí lực lượng để chống lại quân xâm lược Tùy. Họ Lý sai con người anh là Lý Đại Quyền đem quân trấn giữ thành Long Biên, sai một viên tướng khác là Lý Phổ Đỉnh đem quân giữ thành Ô Diên( Từ Liêm- Đan Phượng – Hà Nội) còn tự mình thì trấn giữ ở khoảng thành Cổ Loa- Hà Nội”(8)
Lược qua những dòng lịch sử Việt Nam cho biết trong hệ thống thành cổ Việt Nam 10 thế kỷ đầu công nguyên có ghi chép về thành Ô Diên. Thành Ô Diên có vai trò là nơi đóng đô của Lý Phật Tử sau cuộc kháng chiến thắng lợi - cân bằng vị thế  với thành Long Biên – nơi đóng đô của nhà nước Vạn Xuân và là đô của Triệu Việt Vương. Sau khi thống nhất lãnh thổ và quyền lực Lý Phật tử đã định đô ở đây với vị thế là Kinh đô của Hậu Lý Nam đế. Khi kinh đô của Lý Phật Tử chuyển đô về Phong Châu thì Lý Phổ Đỉnh được phân đóng giữ thành Ô Diên cũng cân bằng với Lý Đại Quyền đóng quân ở thành Long Biên.Thành Ô Diên trở thành kinh đô của Lý Phật Tử lên nắm quyền từ năm 555 đến năm 571 khi Lý Phật Tử đánh bại Triệu Quang Phục(16 năm).Theo Việt điện u linh thì sau khi đánh bại Triệu Quang Phục thì Lý Phật Tử thiên đô đến  Lộc Hoa và Vũ Ninh; thành Ô Diên giao cho Lý Phổ Đỉnh trần giữ đến năm 603- Đây là tòa thành với vai trò quân sự (32 năm).Như vậy, thành Ô Diên được biết đến, sử dụng trong 58 năm, Lý Phật Tử ở ngôi được 47 năm. Tòa thành này có hai vai trò: kinh đô là trung tâm chính trị quyền lực, hành chính và kinh tế văn hóa của một vương triều và thành quân sự vị trí trọng yếu của vùng đất, trấn giữ phía tây khi cuộc kháng chiến chống nhà Tùy xâm lược ( Lý Phật tử đóng quân ở thành Cổ Loa)
Với thời gian tồn tại và vị thế của thành Ô Diên có thể thấy đây là một tòa thành có vai trò quan trọng trong hơn nửa thế kỷ buổi đầu giành được độc lập của dân tộc Việt Nam( 548 -603) kể từ cuộc khởi nghĩa của Lý Bí với nhà nước độc lập Vạn Xuân và kinh đô Long Biên- nền tảng cho kinh đô Thăng Long sau này tỏa sáng
II. Những dấu tích thành cổ Ô Diên.
Sau một thời kỳ lóe sáng của độc lập dân tộc, nước ta lại chìm vào vòng đô hộ của phong kiến phương bắc Tùy- Đường; cùng với việc vơ vét kinh tế, chính sách đô hộ đồng hóa văn hóa được các triều đại thi hành tàn khốc, những dấu tích vang vọng của thời kỳ độc lập qua năm tháng dần bị mai một, trong đó có thành cổ Ô Diên. Các sử gia sau này khi biên sử cũng cố công tìm lại dấu xưa nhưng  các ghi chép cũng khác nhau. Về địa danh Ô Diên Phan Huy Chú cho biết “  Đền Nhã Lang ở xã Hạ Mỗ; Nhã Lang là con Hậu Lý Nam Đế ở đất Ô Diên , lấy con gái Triệu Việt Vương là Cảo Nương, lấy trộm mũ đầu mâu, có móng rồng rồi phản bố vợ, lập mưu đánh úp Triệu Việt Vương.Ô Diên tức là xã Hạ Mỗ ”(9). Một số chuyên khảo cho rằng thành Ô Diên ở địa bàn huyện Đan Phượng ( Hà Tây cũ). Hay “Lý Phật Tử đóng đô ở thành Ô Diên( nay là làng Đại Mỗ huyện Hoài Đức)” (7). Để tìm về vị trí thành Ô Diên, thử tìm trong tài liệu lịch sử. Cuộc khởi nghĩa Lý Bí nổ ra năm 541 dẫn đến hình thành nhà nước độc lập Vạn Xuân và kinh đô Long Biên thành.Năm 544 Lý Bí xưng là Nam việt Đế; năm 545 nhà Lương đưa quân sang xâm lược, vua thua ở cửa sông Tô Lịch chạy về thành Gia Ninh, năm 546 thành Gia Ninh thất thủ vua chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương, sau đóng quân ở hồ Điển Triệt. Quân Lương phá quân ở Điển Triệt, vua lui về động Khuất Lão và giao bình quyền cho đại tướng là Triệu Quang Phục. Năm 550 Triệu Quang Phục thắng quân Lương “ Vua vào thành Long Biên ở” (9). Khi vua lui về động Khuất Lão thì anh của Lý Nam đế là Lý Thiên Bảo cùng với tướng người họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân lập nước Dã Năng xưng là Đào Lang Vương. Năm 555 Đào Lang Vương mất “ Lý Phật Tử lên nối ngôi thống lĩnh quân chúng”(10). Năm 557 Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương 5 lần không phân thắng bại “ Vua nghĩ rằng Phật tử là người họ của Tiền Lý Nam đế, không nỡ cự tuyệt, bèn chia đại giới ở bãi Quần Thần ( nay là hai xã Thượng cát và Hạ cát ở huyện Từ Liêm), cho ở phía Tây của nước. Phật Tử rời xuống ở thành Ô Diên( nay là xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm” (11). Năm 571 Lý Phật Tử đánhbại Triệu Việt Vương và lên ngôi được coi là Hậu Lý Nam Đế. Thành Ô Diên cho đến nay về vị trí có các nguồn tài liệu khác nhau thuộc địa bàn xã Hạ Mỗ huyện Từ Liêm; xã Đại Mỗ huyện Hoài Đức và xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng. Theo khảo cứu cho biết vào thời kỳ nhà Đường đô hộ “ Châu Nam Từ gồm đất 3 huyện Từ Liêm, Ô Diên, Vũ Lập. Huyện Ô Diên đặt tên là do sông Ô Diên là khúc sông Hồng tiếp sang sông Đưống tức khoảng huyện Hoài Đức ngày nay” (12).
Thời Lý  Lộ Quốc Oai...là miền Hà Tây trên lưu vực sông Đáy”. Thời Trần châu Từ Liêm gồm hai huyện Đan Phượng và Thạch Thất “Xem thế thì thấy châu Từ Liêm là tương đương với miền tỉnh Hà Tây ở trên đoạn phía bắc của sông Đáy”(13)
Thời thuộc Minh huyện Đan Phượng đổi thành huyện Đan Sơn “ Phủ Giao Châu có châu Từ Liêm lãnh hai huyện Đan Sơn và Thạch Thất” (14) Đời Lê Quang Thuận lại  đổi tên thành huyện Đan Phượng.
Như vậy dù ghi chép chưa thống nhất xã Hạ Mỗ của Từ Liêm, Hoài Đức hay Đan Phượng thì vị trí thành Ô Diên vẫn thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây ngày nay và tòa thành này gắn với hệ thống sông Hồng – Đáy chảy trên địa bàn. Để tìm về địa bàn thành Ô Diên trong lịch sử. Ghi chép của Phan Huy Chú cho biết “ Đền Nhã Lang ở xã Hạ Mỗ; Nhã Lang là con Hậu Lý Nam Đế ở đất Ô Diên , lấy con gái Triệu Việt Vương là Cảo Nương, lấy trộm mũ đầu mâu, có móng rồng rồi phản bố vợ, lập mưu đánh úp Triệu Việt Vương.Ô Diên tức là xã Hạ Mỗ ”.Phần Đền miếu trong Đại Nam nhất thống chí không thấy ghi chép về đền thờ Nhã Lang mà có ghi chép về miếu Tiền Lý Nam Đế thờ tại xã Kim Thi huyện Đan Phượng. Vậy địa điểm thờ Nhã Lang  mà Phan Huy Chú ghi chép có liên quan gì đến thành Ô Diên cũ. Hiện  nay trên địa bàn thôn Hạ Mỗ xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng có tên gọi miếu Hàm Rồng “ Miếu nguyên xưa là gò hạt ngọc, nổi giữa đầm Hàm rồng, thuộc về trong thành Ô Diên, nay có đê vòng sau miếu”(15). Miếu còn được gọi là quán Bét cách đọc Bát kiêng húy của Lý Bát Lang. Theo tài liệu cho biết địa điểm miếu Hàm rồng nay chính là địa điểm xây dựng phủ đệ xưa của Lý Bát Lang khi Lý Phật Tử định đô tại đây, năm 571 Lý Bát Lang mất, địa điểm này được xây miếu để phụng thờ (16).  Miếu thờ Lý Bát Lang có phải là  Đền thờ Nhã Lang , hai nhân vật này là hai hay một. Đây là vấn đề lịch sử cần được khảo cứu thêm. Tại thôn còn có đền Chính khí được xây dựng trên vùng đất cao nhất của làng Hạ Mỗ. Trên khu đất này được coi là trung tâm thành Ô Diên xưa nhân dân đã dựng nên một ngôi đền thờ Lý Phật Tử cùng các vương tôn, tướng lĩnh nhà Hậu Lý Nam Đế. Đền thờ Tứ vị Đại Vương trong đó có Nhã Lang linh ứng đại vương ( con Lý Phật tử) và Biệt súy Phổ Đỉnh đại vương ( người trần giữ thành Ô Diên.). Cùng với miếu đền còn có đình Vạn Xuân thờ các nhân vật liên quan đến thành Ô Diên trong lịch sử. Như vậy vị trí miếu, đền, đình  ngày nay, theo tài liệu được xây dựng ở vị trí trung tâm hay  nằm trong lòng thành Ô Diên cổ và thờ các vị thần liên quan đến triều đại Hậu Lý Nam đế.  Có thể thấy mật độ di tích ở đây khá đậm và thống nhất liên quan đến nhân vật và thành Ô Diên trong lịch sử.
Tài liệu lịch sử và di tích đã cung cấp phần nào về địa điểm của thành Ô Diên trong lịch sử.


(1)    Việt điện u linh là cuốn sách được Lý Tế Xuyên viết vào đầu thế kỷ XIV( bài tựa được viết năm 1329) và được tục biên nhiều năm sau đến thế kỷ XIX. NXB Văn học – Hà Nội 1972 – tr42 -46
(2)    ( 3) Đại Việt sử ký toàn thư. NXBKHXH. Hà Nội 1998 – tr 184-185
(4) Khâm định Việt sử cương mục. NXB KHXH. Hà Nội 2006 tr
(  5 -9)Phan Huy Chú : Lịch triều hiến chương loại chí Tập I. NXB Giáo dục – Hà Nội 2008 tr 224- 134
(6) Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược.NXB Đà Nẵng 2003 – tr 54
(7) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời. NXB Thuận Hóa  -1995 tr 84
(8) Viện sử học: Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ X. NXBKHXH Hà Nội 2001 tr 348 -350
(9- 10- 11)Đại Việt sử ký toàn thư. NXBKHXH. Hà Nội 1998 – tr 183
(12-13)Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời. NXB Thuận Hóa  -1995 tr 88- 130
(14) Đại Nam Nhất thống chí. Tập IV. NXB Thuận Hóa – 2006 tr212
(15) Thần tích, thần sắc làng Hạ Mỗ, tổng Thượng Hội, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông- Viện thông tin KHXH – Hà Nội 1995

(16) Theo: Hậu Lý Nam Dế Bát Lang Hoàng công Hy Minh Dũng nghị đại vương ngọc phả cổ lục – soạn năm 1572

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

XỨ BẮC- VÙNG VĂN HÓA THĂNG LONG TỎA SÁNG
                                                                     
          Bắc Ninh – Bắc Giang, vùng đất cổ ngàn xưa nằm ở  phía bắc sông Hồng – dòng sông Mẹ- tạo nên diện mạo đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, vùng đất phên dậu của trung tâm đồng bằng bắc bộ, từ trong lịch sử đã trở thành một vùng đất kết tinh văn hóa của dân tộc, đặc biệt hơn khi dân tộc giành được độc lập, nhà Lý chuyển kinh đô về  Thăng Long,  vùng đất này có vai trò trọng yếu là tấm lá chắn trong việc gìn giữ nền độc lập và phát triển kinh tế văn hóa của dân tộc. Thời kỳ nhà Lý, được mở đầu là Lý Công Uẩn và kết thúc là Lý Chiêu Hoàng ( 1010 -1225). Năm 1010, sau một thời gian dài trải qua hai triều đại Đinh – Tiền Lê nền độc lập tự chủ của dân tộc giành được và củng cố vững chắc, trước điều kiện phát triển mới của dân tộc; Lý Công Uẩn cho dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long, đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc. Với vị thế địa lý của  miền đất, Bắc Ninh -Bắc Giang trở thành phên dậu phía bắc của vùng đất kinh đô, đặc biệt vùng đất Bắc Ninh, nơi phát tích của nhà Lý  được coi là đất thang mộc của vương triều, đã có mối quan hệ mật thiết với trung tâm kinh tế văn hóa chính trị của dân tộc, mở ra một thời kỳ mới của Bắc Ninh- Bắc giang trong lịch sử và văn hóa dân tộc. Cùng với Thăng Long, thời kỳ nhà Lý nhiều công trình kiến trúc tôn giáo được chú trọng xây dựng tại đây. Do vị thế đất vùng lá chắn kinh đô; chính vì thế các cuộc chiến tranh từ phương bắc, cùng với điều kiện tự nhiên khốc liệt; các biến động của xã hội cho nên cho đến nay nhiều công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc đá mà sử liệu ghi chép cho đến hiện nay không còn.
I. Một vài ghi chép trong lịch sử

Năm 1010 Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, để tri ân với quê hương sinh thành, việc đầu tiên ông “ đổi châu Cổ Pháp gọi là Phủ Thiên Đức...sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan thuê thợ làm chùa ở Phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở đều dựng bia ghi công”(1)
Cuộc cải cách hành chính đầu tiên của vương triều mới trên đất Thăng Long là cải cách  hành chính , “ Đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu Hoan, châu Ái làm trại”(2)
(1-2) Đại Việt sử ký toàn thư- NXBKHXH 2004; tr 241-242
Vậy trong 24 lộ, vùng xứ Bắc là một đơn vị hành chính Lộ- Lộ Bắc Giang bao gồm vùng đất phía bắc sông Cái ( sông Hồng) gồm đất Bắc Ninh – Bắc Giang ngày nay, “ lộ Bắc Giang thì tương đương với lộ Bắc Giang thời Trần, là miền Hà Bắc” (1); nhưng có lẽ phủ Thiên Đức được triều đình trực tiếp quản lý. Lộ Bắc Giang trở thành phiên dậu phía bắc và có mối quan hệ mật thiết đa chiều với kinh đô Thăng Long và vùng đất phát tích vương triều- Phủ Thiên Đức. Để bảo vệ kinh đô Thăng Long về phía Bắc, nhà Lý đặc biệt chú trọng vùng đất này. Năm 1027 “ Xuống chiếu cho Khai thiên vương ( Phật Mã) đi đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh Vương ( Lực) đi đánh văn châu”(2) dẹp nạn cát cứ. Thắt chặt, ràng buộc  và nắm giữ vùng đất phía Bắc các vua nhà Lý thực hiện gả  công chúa  cho  tù trưởng có thế lực quản lý vùng đất (3), thực hiện mối quan hệ thông gia bền chặt,biến vùng đất này làm quê  cháu con phên dậu. Tháng 7 năm 1029 vua Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái(4). Đây là dòng họ lớn, quản lý vùng đất nhiều đời có thế lực tại địa phương. Sự tin cậy thể hiện qua các cuộc viếng thăm của các vua triều Lý đến vùng đất. Tháng 9 năm 1032 “ vua đi châu Lạng bắt voi, rồi từ châu Lạng trở về”( 5). Từ nền tảng ban đầu, các triều vua Lý đều gắn bó với vùng đất. Sử cũ ghi lại:
Tháng 3 năm 1059 Lý Thánh Tông. “ vua đi săn ở vùng sông Nam Bình thuộc Lạng châu, nhân đó ngự đến nhà phò Mã Thân Cảnh Nguyên”(6). Năm 1066 “Con trai công chúa Bình Dương là Thân Đạo Nguyên lấy công chúa Thiên Thành ” (7) con vua Lý Thánh Tông.
(1) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các thời.NXB Thuận Hóa 1998 tr 118.
(2)Đại Việt sử ký toàn thư- NXBKHXH 2004; tr 247. Sách có chú thích hai châu này thuộc huyện Tràng Định, Văn Quan và một phần Văn Lăng ( Lạng Sơn) ngày nay.
(3)Theo một số tài liệu cho biết  từ thời Lý Công Uẩn đã gả công chúa cho Giáp Thừa Quý châu mục châu Lạng châu. Tham khảo thêm:Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt Lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý. NXB Quân đội nhân dân – 2003. Di sản văn hóa Bắc Giang: Khảo cổ học từ tiền sử đến Lịch sử. Bảo tàng Bắc Giang 2008.
(4)Đại Việt sử ký toàn thư- NXBKHXH 2004; tr 253; Việt sử lược.NXB Thuận Hóa 2005tr 81.
(5) Đại Việt sử ký toàn thư- NXBKHXH 2004; tr 255
(6)Việt sử lược NXB Thuận Hóa 2005 . tr 91
(7)Việt sử lược NXB Thuận Hóa 2005 . tr 91
Năm 1072 “ Châu mục Lạng châu là Dương Cảnh Thông dâng con hươi trắng. Quần thần dâng biểu chúc mừng. Cho Dương Cảnh Thông làm thái Bảo”(1). Năm 1079 Lạng châu dâng voi trắng... công chúa Thiên Thành dâng con rùa 6 mắt 3 chân.” (2).Năm 1091 “ tháng 2 vua ngự lên châu Lạng xem bắt voi”(3). Năm 1106 “ Công chúa Thiên Thành dâng 2 voi trắng”(4).Năm 1147” “ tháng 11 làm nhà cho công chúa Thụy Thiên ở châu Lạng”(5). Năm 1148 Công chúa Thụy Thiên về châu Lạng(6). Năm 1149 tháng 11 công chúa Thiên Thành mất”(7). Năm 1167 “ công chúa Thiên cực gả về cho châu mục lạng châu là Hoài Trung Hầu” ( 8) . Ghi chép trên cho thấy trên 200 năm từ khi khởi dựng, nhà Lý luôn quan tâm gắn bó với vùng đất phương bắc. Chắt lọc tài liệu cho thấy, vùng đất này có hai dòng họ lớn: họ Dương và họ Giáp sau đổi là họ Thân. Họ Dương có người được thăng chức Thái Bảo- một trong 3 vị trí cao nhất của hệ thống quan lại. Đặc biệt là họ Thân có đến 3 đời làm phò mã vương triều Lý với các cặp được biết rõ :
- Công chúa Bình Dương – Thân Thiệu Thái( năm 1029)
- Công chúa Thiên Thành -  Thân Đạo Nguyên ( năm 1066)
 Công chúa Thiên Cực – Hoài Trung Hầu ( chưa rõ tên- năm1167)
 Ngoài ra, năm 1059 có phò mã Thân Cảnh Nguyên.Phò mã Thân Cảnh Nguyên theo năm tháng, năm 1029 công chúa Bình Dương lấy Thân Thiệu Thái thì 30 năm sau ( 1059)  xuất hiện vị phò mã này, có lẽ đây là con của Thân Thiệu Thái lấy công chúa nhà Lý nên sử không ghi và 7 năm sau ( 1066)Thân Đạo Nguyên con của công chúa Bình Dương lấy công chúa Thiên Thành con vua Lý Thánh Tông mới được sử ghi lại. Đây có lẽ là hai anh em con Thân Thiệu Thái.Công chúa Thiên Cực là con vua Lý Anh Tông gả cho Hoài Trung Hầu chỉ được ghi chép ở Việt sử lược mà không có trong Toàn thư. Sự kéo dài của mối quan hệ hôn nhân được sử ghi chép lại từ 1029 đến 1167 là 138 năm, như vậy là chưa đủ có thể còn hơn nữa với mối quan hệ họ hàng Hoàng tộc nên không được ghi chép. Nhưng 8 đời vua Lý, họ Thân có đến 3 đời làm thông gia, trong đó kéo dài nhất thời gian công chúa Thiên Thành làm dâu ở đây 83 năm(?)( 1066 – 1149)  đã
(1-2-3-4- 8)Việt sử lược NXB Thuận Hóa 2005 . tr 99- 103- 106- 152
(5-6- 7)Đại Việt sử ký toàn thư- NXBKHXH 2004; tr 317. ) )

chứng tỏ sự ảnh hương của văn hóa thời Lý ở đây. Đây là một vấn đề của lịch sử cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Bên cạnh mối quan hệ thông gia, vùng đất xứ Bắc cũng là nơi được hoàng tộc Lý quan tâm, công chúa Thụy Thiên được vua  làm nhà năm 1147 và đến ở vào năm1148. Công chúa Thụy Thiên đến vùng đất do lấy chồng hay mến cảnh yêu người đến cư ngụ. Đây cũng là vấn đề cần quan tâm, bởi vùng xứ Bắc là nơi Phật giáo khá phát triển rầm rộ dưới vương triều Lý.
Dù là mối quan hệ thông gia, hay miền đất được  Hoàng tộc nhà Lý quan tâm đã cho thấy mối quan hệ giữa miền đất và kinh thành Thăng Long có một chiều dài thẳm sâu trong lịch sử. Mối quan hệ đó đa phương, đa chiều mật thiết với kinh đô Thăng Long và văn hóa Thăng Long thời Lý  hội tụ đủ điều kiện để tỏa sáng trên vùng đất xứ bắc.
II. Những dấu tích vật chất
Vùng đất xứ Bắc với mối quan hệ mật thiết với vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, trong lịch sử có nhiều công trình kiến trúc được xây dựng khá quy mô, hội tụ nhiều yếu tố văn hóa Lý nhưng cho đến nay,  trải qua thời gian do thiên nhiên cùng những biến động xã hội những di tích thời Lý trên vùng đất Bắc Giang khá hiếm hoi
1. Những di tích- di vật.
- Đền Tòng Lệnh xã Trường Giang huyện Lục Ngạn.
Đền thờ công chúa Bình Dương- vị công chúa nhà Lý lấy Thân Thiệu Thái- được tôn vinh là Thánh mẫu. Theo thần tích cho biết khi về đây công chúa Bình Dương có dựng hai cung An Khánh và cung Bồng Lai. Cung An Khánh thuộc địa bàn thôn Tòng Lệnh.Hiện nay nơi đây có đền và chùa Tòng Lệnh. Di vật tại chùa Tòng Lệnh hiện còn một chân tảng đá kích thước đường kính 0,7m, xung quanh chạm khắc hoa văn cánh sen gồm 24 cánh vây quanh. Đây là hiện vật có thời Lý. Phải chăng bên cạnh cung cư trú, công chúa nhà  Lý đã dựng ngôi chùa thờ phật bên cạnh, một đặc trưng phật giáo thời Lý mà ngày nay vẫn để lại dấu tích.
- Tại thôn Bồng Lai xã Phượng Sơn huyện Lục Ngạn hiện còn để lại một nhóm phế tích kiến trúc gồm :
Cung Bồng Lai, theo truyền thuyết đây là cung do công chúa Bình Dương xây dựng khi dời nhà sang đây.

Chân tảng( đá) trang trí cánh sen
Khảo sát cho thấy trên địa điểm cung Bồng Lai tìm được một số viên gạch hình vuông cạnh 0,32m, dày 5cm, mặt được trang trí họa tiết hoa cúc hoa cúc được tạc tỉ mỉ chau chuốt. Một chân tảng bằng đá trang trí hoa văn cánh sen vây quanh
Đền Bồng Lai tại thôn Bồng Lai xã Phượng Sơn huyện Lục Ngạn. Theo thần tích đây là ngôi đền thờ viên quan Vũ Tỉnh lấy công chúa nhà Lý, làm quan đến Tả Bộc Xạ, khi mất được dân dựng đền thờ. Hiện nay di tích vẫn còn.
 Đền Cầu Từ, thôn Cầu Từ xã Phượng Sơn huyện Lục Nam, theo thần tích thờ Vũ Thành con Vũ Tỉnh. Cuộc khai quật tại đây năm 2007 với 30m2 và 36m2 năm 2008 đã tìm được dấu vết kiến trúc được hiện vật chủ yếu có niên đại thời Lý gồm chân tảng, ngói lợp, đầu ngói ống, đồ gốm sứ, cho thấy có thể đền được xây dựng sau này trên nền kiến trúc cung thời Lý ngày xưa(?).
 Bên cạnh địa bàn xã Phượng Sơn, điều tra khảo sát còn cho thấy một số phế tích kiến trúc thời Lý với nhiều hiện vật kiến trúc trong đó có viên gạch đề ghi “ Lý gia đệ tam đế  Long thụy thái bình tứ niên tạo” vào năm 1057 đời vua Lý Thái Tông- thời gian công chúa Bình Dương ở đây.
Những di tích, di vật cho thấy vùng đất này lưu giữ một quần thể kiến trúc thời Lý có quy mô lớn, phân bố rộng ven hai bờ sông Lục Nam, một vùng đất giàu có trù phú thuận lợi giao thông với Thăng Long. Những công trình ở đây được xây dựng mang tính chất cung đình, hiện vật tương đồng với các công trình kiến trúc khác được xây dựng dưới sự bảo trợ của vương triều như chùa Phật Tích, tháp Chương Sơn, Tường Long trong lịch sử.
- Cùng với những kiến trúc cung đình, trên vùng đất xứ Bắc còn nhiều ngôi chùa  theo truyền thuyết được xây dựng từ thời Lý.Theo nội dung xã chí lưu tại đình làng Chể xã Phượng Sơn cho biết cùng sự có mặt của công chúa Bình Dương, Thiên Thành tại vùng đất còn có các công chúa Thụy Thiên, An Hòa không lấy chồng, khi đến vùng đất mến mộ đạo phật đã  đã  dừng chân tu đạo  ở đây. Vua Lý đã cho xây nhà ở cho các công chúa như sử cũ ghi lại
 Chùa Cao xã Khám Lạng huyện Lục Nam là một chùa nổi tiếng xứ Bắc, chùa  được xây dựng trên vùng đất cao thoáng Theo tài liệu lịch sử cho biết chùa được xây dựng vào thời Lý, do những biến động của xã hội và can thiệp của tự nhiên cho  nên dấu vết chùa xưa không còn. Tại địa điểm này hiện nay chùa Cao vẫn được duy trì. Trên nền cũ chùa xưa trong quá trình đào đắp xây dựng  phát hiện được nhiều hiện vật thuộc thời Lý như phù điêu hình lá đề có khắc nổi đôi rồng mào lửa, một con chó đá, một tượng kiểu Garuda.- Tượng chó đá: tượng làm bằng đá gan gà cứng, cao 34cm, đế rộng 18 cm  tượng đục khắc ở tư thế ngồi. Trên thân được chạm khắc hoa văn khá tỉ mỉ
Tượng hình Garuda:  tượng  làm bằng đá nhám, gan gà cứng tượng chỉ trạm khắc nửa ngoài, còn nửa trong để thô. đầu tượng giống như đầu con chim cú mèo, có yếm cổ, trên yếm có vạch ngang. Hai chân chống thẳng lên đế tượng, khá độc đáo.

Tượng đá Chùa Cao- Khám Lạng – Lục Nam
 Cuộc điều tra năm 1989 đã tìm được ở đây nhiều hiện vật thời Lý với các chất liệu khác nhau. Điêu khắc đá hình thủy ba nhiều lớp nhô lên uốn mềm mại hay lá đề chạm khắc hình rồng uốn đối xứng nhau. Kích thước lá đề: cao 0,29m, rộng 0,32m, dày 6,5cm.- Hoa văn trang trí: Lưỡng rồng chầu mặt trời, cân xứng. Miệng rồng ngậm ngọc, thân uốn lượn hình sin. Chân có 3 móng vuốt. Diềm lá đề trang trí hình xoáy ốc.
Lá đề ( đá) trang trí hình rồng
Diềm chân( đá) trang trí Thủy Ba
Phiến đá có lỗ mộng: được làm từ đá cát hạt mịn mầu nâu thẫm, chắc là những cấu  kiện trong kiến trúc chùa tháp thời Lý, bởi những lỗ mộng vuụng để tra ngõng có ở cả 4 hoặc 6 mặt các phiến đá trên, trong đó có một tấm được chạm hoa cúc dây ở một mặt, còn các mặt khác có lỗ mộng dọc ngang, rất khó xác định vị trí của nó trong tổng thể kiến trúc chùa tháp cổ ở chùa Cao “ điển hình về hoa lá trong chùa tháp thời Lý là hoa sen và hoa cúc, mỗi bông hoa dù Sen hay Cúc đều được nở gọn trong một vòng dây uốn tròn trổ nhiều lá mọc đối nhau”
Bên cạnh đó là các hiện vật đất nung như các lá đề hiện trạng vỡ mất phần đầu,

Lá đề trang trí hình Rồng
 còn lại phần thân và đáy thể hiện đề tài rồng uốn đối xứng nhau theo đề tài trang trí lưỡng rồng chầu ngọc. Thân rồng uốn lượn hình sin. Chân rồng có 3 móng nhọn. Nhiệt độ nung rất cao, nên hiện vật có độ cứng như sành. Kích thước cao 16cm, rộng 19cm, dày 2,5cm.
Hay đất nung trang trí hình chim Phượng hai mặt khá chi tiết. Đuôi  Phượng uốn lượn hình sin, như hình uốn thân rồng. Thân có hai cánh  xòe ra bao bọc lấy phần thân. Đầu với mỏ nhọn cong hướng lên , lông gáy bay tua.Hình chim có một chân, với 3 móng vuốt. Kỹ thuật vè chi tiết tỉ mỉ sống động. Kích thước  cao 28cm, rộng 23cm, dày 3,5cm.
Gạch trang trí Phượng
Gạch trang trí Phượng

Gạch trang trí cũng tìm được không nhiều. Các viên gạch được trang trí khá đẹp

Gạch lát trang trí Hoa cúc
 Gạch lát trang trí hoa sen
 Với hoa văn hóa cúc dây thể hiện chi tiết tinh tế  Mảnh vỡ kích thước còn lại dài 16cm, rộng 12cm, dày 6cm.  Hoa văn còn nhận biết một phần của đường tròn chính giữa, bên trong trang trí nhũ hoa với 3 vòng đều nhau, bên ngoài là hoa dây uốn mềm mại.Gạch lát nền trang trí hoa sen, có kích thước  dài 38cm, rộng 34cm, dày 5cm. Hoa văn trang trí trên mặt gạch thể hiện hoa sen ở chính giữa một khung hình vuông. Hoa sen có 8 cánh chia làm hai lớp cánh nở xòe rộng
Vật đất nung có hình trang trí vẩy nhiều lớp xếp nhau gồm nhiều mảnh bị vỡ. Hoa văn hình vây cá xếp lớp. Đây có thể là mảnh thân rồng vỡ ra.Những hiện vật tìm được khẳng định thời Lý trước đây có một ngôi chùa có quy mô lớn được xây dựng mang đặc trưng của chùa thời Lý,
Trang trí vây cá
được nhà Lý cho xây. Phải chăng đây là ngôi chùa mà công chúa Thụy Thiên đã từng xuất gia tu tại đây (?)
Chùa My Điền tại thôn My Điền xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên, một ngôi chùa chùa tương truyền được xây từ thời Lý nay đổ nát, chùa hiện tại được xây dựng trên nền cũ. Quá trình khảo sát tại đây đã phát hiện một số di vật thời Lý :
 Rồng đá  được phát hiện ở chùa My Điền. Đây là loại rồng được đặt ở thềm chùa. Rồng ở tư thế bò xuôi xuống, tạc bằng chất liệu đá xanh trên đầu rồng có mào lửa, thân rồng uốn theo lối thắt túi có 4 chân. Thân rồng để trơn không có vẩy – Do bị nước phân hoá nên các chi tiết trên thân rồng, đầu rồng không còn rõ nét. Theo nhân dân địa phương cho biết, trước có một đôi, sau bị lấp xuống ao. Sau này sửa chùa tìm lại được con rồng này
Phù điêu bằng đá cát hạt mịn hình lá đề chạm rồng. Có một tấm lá đề còn nguyên vẹn chạm đôi rồng uốn lượn mềm mại, được tỉa tác rất chi tiết  Đường diềm lá đề thời Lý thường là các dấu hỏi…lá đề trang trí hình rồng thời Lý thường được trạm trên các đồ đá xây tháp ( Phật Tích, Tường Long, Chương Sơn….)
 Phiến đá tay vịn thành bậc cửa: Trên đó tạc một con sấu nghê – sóc đang trong tư thế trường từ trên cao xuống, đầu có sừng gắn cạnh tai, thân để trơn , đuôi trẻ thanh sợi. Nhìn chung con sấu nghê – sóc ở chùa Cao “ thô sơ, nhỏ bé hơn nhiều so với con sấu nghê – sóc trong tư thế tay vịn chùa Lạng.
Tượng sư tử: ngồi trên một hình hộp tạc đá cát hạt mịn màu vàng sẫm. Hai chân trước chống thẳng xuống đầu một con sơn nhô ra khỏi mặt bệ, đầu con sơn này cong vát từ dưới lên, tạo văn xoáy chôn ốc. Dưới đáy đến có đục lỗ mộng tra ngõng gần vuông. Trên thân sư tử có các hoa (  5- 7 cánh ) nhỏ là đặc trưng của nghệ thuật Lý”. Những hoa tròn cánh xoáy ngược chiều kim đồng hồ này "thường được trang trí trên mình sư tử và sấu thời Lý. Số lượng các cánh xoáy thay đổi tuỳ từng nơi......
 Bệ đá hạt thô ( 2 tấm), màu vàng nhạt, điêu khắc hoa văn sóng nước. Phiến to dài 44cm. dày 11cm. Đây là những mảnh nhỏ trong cả một bệ đá lớn, nhiều tầng xếp chồng lên nhau đã bị vỡ ra. ở di tích chùa Phật Tích, dù trên bệ tượng Phật, tảng kê chân cột hay trụ búp, dù chỉ một đợt hay tới năm đợt chồng lên nhau thì đều là sóng thắt chân hình nấm. Mỗi ngọn sóng thường có 3 lớp to, nhỏ lồng nhau, một típ sóng thường có từ hai đến ba tầng tạo bởi những thắt gãy của đường cong parabol, cuối ngọn sóng bẻ gấp cong và tạo cho chân sóng kế tiếp bên . Sóng chùa Dạm vẫn như sóng chùa Phật Tích. Sóng nước trang trí ở chùa Cao rất gần gũi với những bệ đá ở Dạm và Phật Tích. Trên phần trang trí sóng nước, chắc sẽ là những hoạ tiết rồng, mây, hoa, lá, chim thần, dàn nhạc trang trí bên trên bệ thờ điển hình của thời Lý.
2. Vùng đất văn hóa Thăng Long tỏa sáng.
Với hai nguồn tài liệu: lịch sử ghi chép và di vật tìm được đã cho thấy văn hóa vùng đất  có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Thăng Long thời Lý. Mối quan hệ đó thể hiện sự quan tâm của nhà Lý với vùng đất trọng yếu phía đông bắc tổ quốc. Sự quan tâm ấy thể hiện qua sự ràng buộc về hôn nhân, tạo nên mối quan hệ bền chặt giữa vương triều và dòng họ quản lý vùng đất. Do giao thông thuận lợi với kinh đô Thăng Long, người nhà Lý sinh sống trên vùng đất cho nên các công trình kiến trúc ở đây: cung, chùa đều được ảnh hưởng, thấm đậm hình bóng các công trình kiến trúc của Thăng Long hay vùng đất phát tích Thiên Đức. Sự có mặt của các viên gạch đề ghi niên đại, hay các đề tài trang trí rồng, sư tử, thủy ba, chim phượng, trang trí gạch lát nền đều mang mẫu thống nhất với các công trình kiến trúc do triều đình trực tiếp bỏ tiền của xây dựng. Con rồng thời Lý ở đây có thể thấy trên các công trình tháp Chương Sơn, Đọi Sơn ( Nam Hà); Tường Long ( Hải Phòng); Phật Tích ( Bắc Ninh) . Các đề tài trang trí khác đều được thể hiện mang tính chất nghệ thuật cung đình thời Lý. Có thể nói các di tích, di vật thời Lý trên vùng đất phía bắc là một phần diện mạo của văn hóa Thăng Long.

Do điều kiện lịch sử, trên vùng đất có bề dày  truyền thống văn hóa, hội tụ  và phát triển các yếu tố văn hóa dân tộc, khi văn hóa Thăng Long lan tỏa  đến đây đã được tiếp thu, hội nhập, hình thành nên một vùng văn hóa mang đậm sắc thái Thăng Long. Những di tích thời Lý trên đất Bắc giang đã góp thêm một diện mạo, làm phong phú bản sắc văn hóa Việt Nam trong lịch sử./.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2015



QUAN HỆ ĐẠI VIỆT- CHAMPA
DƯỚI VƯƠNG TRIỀU LÝ
                                                                           
            Năm 1010 vương triều Lý chính thức được xác lập với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn.  Bước ngoặt lịch sử là việc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Sử cũ chép “ Mùa thu tháng bảy, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” Lý Công Uẩn đã chọn vùng đất “… ở giữa khu vực đất trời, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tốt tươi phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.  Sự chuyển đô này đã đánh dấu một thời kỳ mới, tạo tiền đề cho một thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Đại Việt, khẳng định bản lĩnh dân tộc. Vương triều Lý tồn tại trên 200 năm ( 1010 – 1225) với nhiều thành tựu hội tụ, phát triển tinh hoa văn hóa của cả dân tộc  trong một thời kỳ lịch sử, trong những đóng góp đó có sự góp mặt của các nền văn hóa từ những  tộc người anh em, trong đó có dân tộc Chăm, một tộc người sinh sống quản lý trên dải đất phương nam
I Những tiền đề  mối quan hệ Việt Chăm trong lịch sử.
Theo các nguồn sử liệu, người Chăm là một tộc người sinh sống chủ yếu trên vùng đất Trung bộ hiện nay kéo dài từ Quảng Bình tới Bình Thuận. Do điều kiện lịch sử, sau nhiều lần nổi dậy chống sự đô hộ của người Hán, từ cuối thế kỷ II (năm 192),  người Chăm đã giành được độc lập, thành lập một quốc gia tự chủ mà sử liệu gọi là Lâm Ấp. Trong  đêm trường tăm tối1000 năm dưới sự đô hộ của các triều đại  phong kiến phương bắc và bền bỉ gìn giữ bản sắc văn hóa chống đồng hóa của người Việt thì người Chăm đã xây dựng một nền văn hóa riêng mang đậm bản sắc của tộc người và tỏa sáng trên vùng đất đông Nam á. Mặc có sự khác nhau, nhưng cùng sinh sống trên dải đất, có mối quan hệ lâu đời trong lịch sử, người Việt và người Chăm đã có giao lưu văn hóa mật thiết với nhau. Những trống đồng sản phẩm văn hóa đặc trưng của người Việt có mặt trên suốt dải đất người Chăm sinh sống như  phát hiện được tại Ba Đồn; Quảng Trạch ( Quảng Bình) Phong Thu ( Thừa Thiên Huế) hay xa hơn tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa  đã nói lên điều đó. Trong thời kỳ lịch sử, khi giành được độc lập, người Chăm luôn luôn tìm cách tiến ra bắc, ủng hộ các cuộc khởi nghĩa của người Việt, khiến bọn quan lại đô hộ Trung Hoa phải luôn luôn tìm cách đánh dẹp. Các cuộc chiến điển hình của Đan Hòa Chi ( năm 446); Lưu Phương ( năm 605) đã nói lên điều đó. Bước sang thế kỷ X sau năm 938 người Việt giành được độc lập, xây dựng quốc gia tự chủ thì mối quan hệ Việt – Chăm chuyển sang một bước mới thân thiện và từng bước hòa nhập. Mối quan hệ thân thiện đó thể hiện  sự đan xen giữa người Việt và Chăm. Dưới triều vua Đinh, Phò mã Nhật Khánh “ đem cả vợ con chạy sang Chiêm Thành”; khi Tiên Hoàng chết “ Phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn thuyền quân Chiêm Thành hơn nghìn chiếc cướp muốn đánh thành Hoa Lư…” “ Nhật Khánh là con cháu của Ngô tiên chúa Quyền, trước xưng là An vương cùng 12 sứ quân mỗi người chiếm giữ một vùng ”.Dưới triều Lê Đại Hành năm 982 đã cử sứ giả sang giao hảo. Mối bang giao thất bại, khiến cuộc chiến đầu tiên người Việt tiến vào kinh đô Chămpa tại Indrappura  (Đồng Dương- Quảng Nam) với tư cách là đội quân một quốc gia độc lập. Sau trận chiến này, Quản giáp Lưu Kế Tông một vị tướng của Lê Hoàn đã trốn ở lại..Năm 989 “ Quản Giáp Dương Tiến Lộc đem hai châu Hoan  Ái, xin phụ Chiêm Thành.”. Năm 1005 trong khi tranh giành quyền lực “Đông Thành vương thua chạy vào Chiêm Thành bị giết chết”. Đông Thành Vương là Long Tích con vua Lê Đại Hành, cùng Trung Tông vương (Long Việt) Trung Quốc vương ( Long Kính) Khai Minh Vương ( Long Đĩnh) tranh giành ngôi sau khi  vua Lê Đại Hành chết.
 Ngược lại, mối thân thiện ấy còn thể hiện nhà Lê thu nhận người Chăm làm dân Đại Việt: năm 986 người Chiêm Thành là Bồ La Át  đem hơn trăm người họ xin nội phụ” hay trao trả những người Chăm sang sinh sống ở Đại Việt về quê cũ;  năm 992 “ Mùa hạ cho người Chiêm Thành nhận lĩnh hơn 360 người ở thành cũ châu Địa Lý đem về châu Ô Lý” và Triều đình Đại Việt độc lập là chỗ dựa tin cậy cho người Chăm. Năm 994 “ Cháu vua nước Chiêm Thành là Chế Cai vào chầu”.. Như vậy có thể thấy, mối quan hệ bang giao Việt Chiêm trong lịch sử là mối quan hệ  lâu đời, thân thiết gắn bó đa phương, đa diện với nhau, đặc biệt là mỗi khi có sự biến, vùng đất người Chăm quản lý là nơi nương náu cuối cùng. Điều này khác hẳn,người Việt khi gặp sự cố không ngược lên phía bắc để dung thân. Đây chính là tiền đề ban đầu cho mối bang giao Việt – Chăm thời Lý phát triển.
II. Mối quan hệ Đại Việt – Champa dưới vương triều Lý
Với một vương triều mới thành lập, việc sử lý công việc biên viễn là một việc khó khăn phức tạp và lâu dài. Cùng với việc xác lập bảo vệ biên cương phía bắc, vùng biện viễn phía nam cũng được nhà Lý luôn quan tâm chú trọng. Mối bang giao Việt Chăm  dưới vương triều Lý được thể hiện dưới 3 lĩnh vực:  Ngoại giao; quân sự và giao lưu văn hóa.
 1.Quan hệ ngoại giao.
 Khi triều Lý lên ngôi, định đô ở Thăng Long mở đầu mối quan hệ  với tư cách của hai vương triều,  năm 1011 người Chăm đã tỏ lòng hữu hảo bằng cách dâng Sư Tử lên tiến cống, ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi một năm  Mối bang giao thân hữu ấy được thể hiện theo thống kê ghi chép của Việt sử lược, riêng thời Lý, triều đình Champa cử hơn 43 đoàn sứ bộ sang Đại việt tiến cống sư tử, voi trắng, cá sấu cùng nhiều sản vật địa phương  như tơ lụa, vàng bạc vv... Năm 1198 là năm sứ bộ cuối cùng của Chiêm Thành sang cống nhà Lý và xin cầu Phong. Mật độ sứ giả bang giao rất nhộn nhịp có giai đoạn 2 năm sai sứ sang Đại Việt một lần như các năm 1057 đến 1065; hoặc mỗi năm một lần như các năm từ 1081 đến 1089.  Nhưng cũng có thời gian bị gián đoạn từ năm 1050  đến 1055 - 5 năm mới có một đoàn sứ bộ đến Đại Việt hoặc dưới thời vua Lý Thái Tông “ đến nay đã 16 năm rồi mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang”.Như vậy có thể  thấy bình quân hơn 4 năm lại có một đoàn sứ giả Chiêm Thành có mặt tại Thăng Long. Các sứ giả đại diện cho người Chăm khi có mặt tại Thăng long được nhà Lý rất quan tâm đáp lại bằng con đường ngoại giao khá  tế nhị. Năm 1072 “ Tha thuế sợi vải trắng của Chiêm Thành”; năm 1093 sai “ Hàn Lâm học sĩ Mạc Hiển Tích sang sứ Chiêm Thành” năm 1118 mở hội Thiên Phật ( nghìn Phật để khánh thành chùa Thắng Nghiên Thánh Thọ, cho sứ Chiêm Thành đến xem; năm 1126 hội đèn Quảng chiếu ở Long Trì, xuống chiếu cho sứ Chiêm Thành vào xem;  năm 1128 vua Lý lên ngôi sang báo cho Chiêm Thành;  năm 1130 Vua đánh cầu ở Long Trì, cho sứ nước Chiêm Thành vào hầu xem”;năm 1154 “vua nước Chiêm Thành là Chế Bì La Bút dâng con gái vua nhận”. Năm 1199 nhà Lý “ Sai sứ sang phong vua nước Chiêm Thành” vv…
Trong mối quan hệ này  còn nâng cấp mỗi khi có biến động xã hội, theo truyền thống hai bên là chỗ dựa tin cậy của nhau. Năm 1039 “ Con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng bọn Lạc Thuẫn; Sạ Đâu; La Kế; A Thát Lạt 5 người sang quy phụ nước ta”. Năm 1040 “ Mùa thu tháng 8 người giữ trại Bố Chính của nước Chiêm Thành là Bố Linh; Bố Kha; Lan Đà Tinh đem bộ thuộc hơn 100 người sang quy phụ. Năm 1124 người nước Chiêm Thành là Cụ Ông và 3 người anh em họ đến chầu, tháng 5 cùng năm, người nước Chiêm Thành là bọn Bă Tư Bồ Đà La 30 người sang quy phụ. Năm 1130” Tháng 3 người nước Chiêm thành là Ung Ma, Ung Câu sang quy phụ. Năm 1152 “ người nước Chiêm Thành là Ung Minh Ta Điệp đến cửa khuyết xin mệnh cho làm vua nước ấy. Xuống chiếu cho Thượng chế Lý Mông đem hơn 5.000 người ở phủ Thanh Hoa và châu Nghệ An sang Chiêm Thành lập Ung Minh Ta Điệp làm vua”. Năm 1203 “ Vua nước Chiêm Thành Là Bố Trì bị chú là Văn Bố Điền đuổi, nay đem cả vợ con đến ngụ ở cửa biển Cơ La, ý muốn cầu cứu.” Sự kiện này được Việt sử Lược ghi rõ hơn “Chúa Chiêm Thành là Bố Trì bị chú là Bố Do đuổi, đem hơn 200 chiếc thuyền Bị Lan chở vợ con đến ngụ ở cửa biển Cơ La muốn cầu cứu ta”
 Ngược lại khi người Việt có biến động, vùng đất phía nam vẫn là nơi họ tìm đến “ năm 1103 người Diễn Châu là Lý Giác mưu làm phản… Giác thua trốn sang Chiêm Thành..”
 Hệ quả của mối bang giao thời Lý với hai thế kỷ đi lại gắn bó mật thiết giúp cho hai tộc người hiểu nhau hơn về văn hóa là điều kiện xích lại gần nhau khi có điều kiện
2 Mối quan hệ quân sự.
 Hơn hai thế kỷ dưới vương triều Lý với tư cách một quốc gia độc lập, không ngừng lớn mạnh. Để củng cố nền độc lập, ý trí muốn thống nhất lãnh thổ, song hành với mối quan hệ ngoại giao, vương triều Lý đã từng bước sử dụng sức mạnh để khẳng định vai trò của mình. Từ sự kiện năm 997 “ Chiêm Thành đem quân dòm ngó biên giới nước ta”, khi lên ngôi quản lý đất nước, vương triều Lý đã chú ý đến miền biên viễn phương Nam. Sau khi lên ngôi Lý Công Uẩn  đổi địa giới hành chính 10 đạo thành 24 lộ, châu Hoan , châu Ái  miền biên viễn phía nam làm trại để nới rộng quyền tự chủ cho người quản lý vùng biên. Năm 1036 đặt hành dinh tại Châu Hoan đổi tên châu ấy là Nghệ An. Năm 1041 cho Hoàng tử thứ 8 của Lý Thái Tổ là Uy Minh Hầu Nhật Quang làm tri châu Nghệ An. Điều này cho thấy nhà Lý chú trọng đến vùng đất biên viễn như thế nào.
 Từ những cơ cấu tổ chức hành chính ấy là cơ sở sau này cho các cuộc tiến quân của nhà Lý về phương nam. Năm 1020 sai Khai Thiên Vương Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính. Năm 1044 Lý Thái Tông  thân chinh cầm quân xuống phương nam, người Việt tiến vào vùng đất VịJaya ( Bình Định) quốc đô của Champa. Năm 1069 Lý Thánh Tông  cầm quân đI đánh Chămpa bắt vua nước ấy cùng dân chúng hơn 5 vạn người. Năm 1075 trước khi lập phòng tuyến sông Như Nguyệt chặn cuộc xâm lược của nhà Tống. Lý Thường Kiệt đã đem quân di đánh Chiêm Thành. Năm 1104 Lý Thường Kiệt lại cầm quân đi đánh Chiêm Thành.Năm 1167. Tô Hiến Thành cầm quân đi đánh Chiêm Thành Như vậy theo sử liệu ghi chép vương triều Lý đã 6 lần tiến quân xuống phương nam. Hơn hai trăm năm cầm quyền với 6 lần tiến quân, bình quân trên 30 năm mới có một lần người Việt tiến xuống phía nam.
 Ngược lại theo sử liệu ghi chép kể từ khi vương triều Lý cầm quyền người Chăm có đến  8 cuộc người Chiêm Thành đem quân ra cướp phá biên giới. Năm 1043 tháng 4 giặc sóng gió Chiêm Thành cướp bóc dân ven biển; năm 1068 Chiêm Thành quấy nhiễu biên giới. Năm 1074 Chiêm Thành lại quấy rối biên giới; năm 1104 Vua Chiêm thành là Chế Ma Na đem quân vào cướp, năm 1132 Chiêm thành vào cướp châu Nghệ An; năm 1166 sứ Chiêm thành đi đến miền Ô Lý dùng quân phong thủy mà vượt biển cướp bóc nhân dân ven biển nước ta. Năm 1177 Chiêm thành đến cướp châu Nghệ An. Năm 1218 Chiêm thành đến cướp châu Nghệ An. Các cuộc xung đột biên giới này thường dân đến hệ quả là các cuộc tiến quân  của Đại Việt xuống Champa.
Hệ quả của các cuộc tiến quân là năm 1069 Lý Thánh Tông bắt được vua Chế Củ “ Chế Củ xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội. Vua bằng lòng tha cho Chế Củ về nước”. Lần đầu tiên một phần đất phía nam được hòa nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Đây là  sự sát nhập tự nguyện  trao đổi có điều kiện. Để củng cố quyền quản lý lãnh thổ năm 1075 cùng với việc sai Lý Thường Kiệt tổng lĩnh các quân đI đánh Chiêm Thành… Thường Kiệt bèn họa địa đồ hình thế núi sông của ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh rồi về. Đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh là châu Minh Linh, chiêu mộ dân chúng đến đấy ở” . Để bảo vệ quyền lãnh thổ này năm 1104 vua Chiêm Thành là Chế Ma Na đem quân vào cướp lại phần đất 3 châu  đã sát nhập, nhà Lý lại cử quân chinh phạt gìn giữ, Chế Ma Na lại dâng nộp đất ấy. Phần quản lý lãnh thổ của vương triều Lý mở đến vùng bắc sông Thạch Hãn ( Quảng Trị ) ngày nay. Đây là bước chuẩn bị ban đầu, điểm tựa vững chắc để nhà nước Đại Việt dần hoàn thành sứ mệnh hòa nhập lãnh thổ sau này.
3. Bước đầu của sự hội nhập - Văn hóa.
Để thực hiện việc hòa nhập nhà Lý đã có những chính sách mềm dẻo dần hòa đồng giữa hai tộc người Việt Chăm trên vùng đât mới .Năm 1025 sau khi tiến vào đất Bố Chính nhà Lý  “Xuống chiếu lập trại Định Phiên ở địa giới phía nam Hoan Châu” để quy tụ người Chăm sinh sống. Năm  1044 Lý Thái Tông  đánh kinh thành bắt sống hơn 5.000 người đưa về Đại Việt cho ở từ trấn Vinh khang ( Nghệ An) đến Đăng châu( Yên Bái – Lào Cai) sinh sống cho các tù binh được nhận người cùng bộ tộc, đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành. Đặc biệt hơn một bộ phận người Chăm được nhà Lý  tạo điều kiện cho định cư tại chính trung tâm Thăng Long. Lý Thái Tông khi vào Phật Thệ ( ViJaya) bắt vợ cả vợ lẽ… và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên đưa về Thăng Long, năm 1046 “ dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành”
 Năm 1045 sau cuộc chinh phạt phương nam, vua Lý chế xe Thái Bình lấy vàng trang sức “ Bồng La nga” tức cái bành voi của Chiêm Thành để kéo. Năm 1060 lại “ Tháng 8 phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành sai nhạc công ca hát”. Năm 1203  “ Sai nhạc công chế khúc nhạc gọi là nhạc Chiêm Thành, tiếng trong trẻo ai oán buồn rầu, người nghe phải chảy nước mắt”.
                          Bản đồ lãnh thổ Đại Việt thời Lý
( Nguồn theo bản đồ minh họa của Đào Duy Anh : Đất nước Việt Nam qua các thời đại- NXB Thuận Hóa  1996)
Đặc biệt hơn về tinh thần năm 1069 Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, trong số những tù binh bắt được đưa về Thăng Long có một nhà sư Trung Quốc. Là người hâm mộ đạo phật, tiếp thu những giáo lý Phật giáo; Lý Thánh Tông  đã đưa vị sư này về chùa Khai Quốc, phong làm Quốc sư  khai sinh ra phái Thảo đường, một thiền phái của phật giáo vương triều và tự mình  trở thành thế hệ đầu của thiền phái này.. Thiền phái Thảo đường duy trì được 5 thế hệ trong đó có 3 vị vua tham gia ( Lý Anh Tông thế hệ thứ ba;  Lý Cao Tông thế hệ thứ năm) cùng nhiều vị quan lại đại thần trong triều như Tham chính Ngô Ích ( thế hệ thứ hai); Thái phó Đỗ  Anh Vũ(thế hệ thứ  ba); thái phó Đỗ Thường ( thế hệ thứ tư) và Quản giáp Nguyễn Thức ( thế hệ thứ năm).
Hệ quả của việc giao lưu tộc người và văn hóa  là bước đầu văn hóa Việt tiếp nhận và chọn lọc  đưa những giá trị văn hóa tinh thần từ văn hóa Chăm vào tham gia thành tố văn hóa Việt, mà trong đó Thăng Long là nơi hội tụ kết tinh.
III Nh÷ng chøng cø lÞch sö.
Từ những tư liệu lịch sử, trong nhiều năm gần đây, việc nghiên cứu tìm hiểu mối giao lưu văn hóa giữa hai tộc người Việt – Chăm được quan tâm những bằng chứng vật chất ban đầu dần  được tiếp cận.
Trước hết về những nhân vật lịch sử thời Lý, theo tư liệu lịch sử nhà Lý rất coi trọng quản lý vùng đất biên viễn phương nam, cụ thể năm  1041 cho Hoàng tử thứ 8 của Lý Thái Tổ là Uy Minh Hầu Nhật Quang làm tri châu Nghệ An “ Trao Tiết Việt trấn thủ châu ấy”. Được toàn quyền quyết định chính sách. Ông là một hoàng tộc tài ba, ông tổ chức thu tô hàng năm, lập trại Bà Hòa, khiến cho trấn ấy được vững chắc, lại đặt điểm canh các nơi cất chứa lương thực đầy đủ cái gì cũng vừa ý vua và được phong tước vương.  Sau này  khi nhà Lý sát nhập lãnh thổ, ông lại là người đứng đầu sóng ngọn gió  tổ chức bảo vệ vùng đất mới. Uy vọng của ông được người dân vùng đất ghi nhớ, hiện nay đền thờ ông có mặt nhiều nơi trên vùng đất Quảng Bình và xa hơn là tại đền Tam Tòa ( Nhơn Hải – Quy Nhơn – Bình Định) Theo sử liệu cho biết khi các bộ lạc Chiêm làm phản, để ổn định tình hình Nhà Lý phải cử Oai Minh Vương vị hoàng tử nhiều tài năng trấn trị phương Nam đưa quân vào giúp đỡ Champa mà người Chăm sau này dựng đền thờ ghi công tại Tam toà ven cảng Thi Nại “Đền Uy Minh Vương có tên nữa là đền thần núi Tam Toà, ở cửa biển Thi Nại.Thần họ Lý huý là Nhật Quang, con thứ tám của Lý Thái Tôn được phong UY Minh Vương, coi phủ Nghệ An có chính tích tốt,nhân dân mến phục.Bấy giờ có bộ lạc Chiêm Thành làm phản,vua Chiêm Thành cầu viện,quân của vương đóng ở dưới núi Tam Toà,vua Chiêm thành đón rước.Bộ lạc ChiêmThành được tin đều đến cửa quân sụp lạy và cam đoan xin theo lệnh vua Chiêm,không dám hai lòng.Vương đem quân về, người Chiêm Thành nhớ công đức bèn lập đền thờ ở dưới núi Tam Toà…”. Những cuộc điều tra khảo cổ học hiện nay trên đất Quảng Bình đã tìm được nhiều hiện vật thời Lý trên vùng đất. Những chiếc bát thời Lý men ngọc ( Celadon) tìm được trên vùng núi Tuyên Hóa đã cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Lý đến vùng đất. Đặc biệt hơn những cuộc khai quật khảo cổ học các phế tích  tháp Champa tại Trung Quán, Đại Hữu đều cho thấy các tháp này có niên đại xây dựng trước thế kỷ thứ X. Điều này góp phần khẳng định thế kỷ XI vùng đất này đã thuộc quyền quản lý của người Việt

Bát men ngọc thời Lý tìm được ở Quảng Bình Khác với người Việt, trong 1000 năm bền bỉ gìn giữ văn hóa dân tộc sau thế kỷ X, văn hóa dân tộc mới có điều kiện phát triển, tộc người Chăm đã có điều kiện xây dựng nền văn hóa của dân tộc, tạo nên một nền văn hóa phong phú “ cao đẹp không thua bất kỳ một nền văn hóa  nào ở các nước đông nam á thời trung cổ”  mà đỉnh cao của nó vào thế kỷ X với phong cách nghệ thuật Mỹ Sơn A1 trong kiến trúc và phong cách Trà Kiệu trong điêu khắc. Chính thời gian đó người Việt đã tiếp xúc với đỉnh cao nền văn hóa này qua các cuộc viếng thăm  chính thức và “không chính thức”. Vẻ đẹp kỳ diễm của các công trình kiến trúc; sự sang trọng tinh tế của các tác phẩm điêu khắc, sự mê hoặc của các điệu vũ công, sự mượt mà của câu ca giọng hát đã thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp xã hội từ vua quan đến thường dân. Những cuộc thăm đất nước Champa “ không chính thức” đã đưa hàng ngàn người dân Chăm về sinh sống trên Đại Việt từ Nghệ An cho đến Yên Bái – Lao cai. Những người dân Chăm đến sinh sống có nhiều tầng lớp, người theo tôn giáo, cung nhân, thợ thủ công. Đến sống trên vùng đất mới được quy tụ theo bộ tộc hương ấp, văn hóa Champa lại có điều kiện tồn tại trong lòng nền văn hóa Việt. Tại Hà Nội cho đến nay còn nhiều làng gốc người Chăm cũ như thôn Bà Già ( Từ Liêm – Hà Nội) vùng ven đất Thăng Long.Nếp sống của người Chăm hòa lẫn vào văn hóa Việt. Đặc biệt trong các công trình kiến trúc tôn giáo có tính chất quốc gia  xây dựng thời Lý như chùa Phật Tích (Bắc Ninh) Tháp Chương Sơn ( Nam Hà); tháp Tường Long ( Hải Phòng); đền thờ Bà Tấm ( Hà Nội) tài liệu thu được qua khai quật khảo cổ học tìm được nhiều hiện vật trang trí mang dáng dấp nghệ thuật Champa, tượng Kisna, tượng Khỉ, tượng Sư Tử vv… hay các tượng đát nung Garuda, các lá đề đất nung trang trí. Điều nhận thấy tương đồng khi thời Lý tiếp xúc với văn hóa Champa tại ViJaya ( Bình Định) các kiến trúc Champa được xây dựng trên các ngọn đồi cao thì các công trình kiến trúc thời Lý cũng lựa chọn địa điểm các đồi cao để xây dựng các kiến trúc Phật giáo của mình. Có nhà nghiên cứu nhận xét các công trình xây dựng này có nhiều nét văn hóa Chăm, có thể do các thợ thủ công người Chăm tham gia xây dựng. Gần đây trong cuộc khai quật khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu còn tìm thấy một viên gạch viết chữ Chăm trong lòng đất. Những tư liệu này cho thấy  thời Lý qua các mối quan hệ đa chiều, văn hóa Champa đa góp mặt vào văn hóa Đại Việt. Ngược lại khi nghiên cứu các di tích văn hóa Chămpa dấu vết văn hóa Đại Việt cũng xuất hiện phảng phất trong các công trình kiến trúc. Phù điêu trang trí Makara tháp Đôi ( Bình Định) có thân mình uốn lượn hình sin đều đặn, trơn nhẵn mang dáng dấp của thân con rồng thời Lý.  Dù còn ít ỏi, nhưng có thể thấy văn hóa Đại Việt – Champa có mối quan hệ khá đa chiều, bình đẳng tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau, đó cũng là thể hiện tính chất một xã hội hòa đồng thời Lý.
 Những tài liệu trên cho thấy mối quan hệ Đại Việt – Champa diễn ra hơn hai thế kỷ dưới vương triều Lý, trước hết dựa trên nền tảng hai tộc người cùng sống chung trên dải đất, có mối quan hệ mật thiết với nhau từ trong cội nguồn lịch sử. Khi có điều kiện, triều Lý độc lập tự chủ thì mối quan hệ này được nâng lên một tầm cao mới. Mối quan hệ đó thể hiện đa chiều, thường xuyên rộng khắp trên các lĩnh vực, là nguồn gốc cơ sở để hai tộc người dần từng bước hội nhập với nhau trên một nền văn hóa . Quan hệ Đại Việt – Champa dưới vương triều Lý đặt nền móng mở đầu cho việc hòa nhập lãnh thổ, hội nhập văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc đa dạng tỏa sáng trong lịch sử./.