Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

KHẢO CỔ HỌC VÀ TRÙNG TU THÁP CHAMPA
                                                                                              
              Trong các loại hình kiến trúc tôn giáo cổ  ở nước ta; tháp Champa chiếm vị trí khá đặc biệt. Đây là loại hình kiến trúc của người Chăm xây dựng trong lịch sử, là một bộ phận quan trọng, hình thành nên bản sắc văn hoá Champa, góp thêm sự phong phú đa dạng, vào nền văn hoá dân tộc được dựng xây trong lịch sử. Kể từ khi hoà nhập  vào nền văn hoá chung, với bản sắc riêng, độc đáo, các tháp Champa đã trở thành di sản văn hoá vô giá, mang đậm bản sắc của tộc người tạo dựng. Cho đến nay hàng ngàn năm trôi qua, mặc thăng trầm của xã hội, mặc mưa nắng biến đổi, những tháp Champa vẫn sừng sững, kiên gan toả bóng thách đố cùng thời gian, trở thành biểu tượng của một nền văn hoá trong thành phần văn hoá dân tộc đa sắc màu trong lịch sử.
I. Tháp Champa.
1.Theo thống kê, hiện nay trên dải đất miền Trung và Tây Nguyên có 24 địa điểm còn các kiến trúc tháp Champa với trên 60 công trình còn tồn tại với các hiện trạng khác nhau, nằm rải rác trên địa bàn các tỉnh từ Thừa Thiên – Huế  cho đến Bình Thuận, xa hơn là Đắc Lắc. Hiện trạng tháp Champa hiện còn cho thấy: có địa điểm  có 01 tháp; có địa điểm là 3 tháp xây thẳng hàng; có địa điểm là một quần thể kiến trúc gồm nhiều tháp. Đặc biệt là Mỹ Sơn ( Quảng Nam) là một tổng thể gồm nhiều cụm tháp, được các nhà nghiên cứu coi là “ một đô thị tôn giáo”; mà giá trị của nó sau này được công nhận là Di sản văn hoá thế giới. Như vậy, có thể thấy, về số lượng các kiến trúc tháp Champa hiện còn khá nhiều, trên nhiều địa điểm khác nhau, chiếm vị trí quan trọng trong tổng số các di sản văn hoá, trên nhiều vùng đất. Đó là định lượng về loại hình di tích này.
2. Trong hệ thống tháp Champa hiện còn, có nhiều loại hình kiến trúc được xây dựng với chức năng khác nhau. Về cơ bản, công trình kiến trúc chính là tháp thờ, vây quanh là hệ thống kiến trúc phù trợ như ; tháp cổng; tháp kho, nhà dài ( Mandapa), tháp bia vv.. Mỗi loại hình kiến trúc đảm nhận một công năng khác nhau, cho nên quy mô kiến trúc, khối kiến trúc và hoạ tiết trang trí khác nhau. Thông thường các tháp thờ được xây dựng quy mô lớn nhất cao từ 15m – 24m. Cá biệt có kiến trúc cao trên 40 m ( tháp giữa – Dương Long), được xây dựng khối kiến trúc hài hoà, khắc tạc  trang trí đẹp nhất. Các kiến trúc phụ trợ tuỳ theo công năng sử dụng mà có quy mô, trang trí khác nhau. Nhìn chung các kiến trúc Champa được xây dựng, trang trí hài hoà, có giá trị thẩm mỹ. Mỗi kiến trúc được coi là một tác phẩm về nghệ thuật đặc sắc, mang đặc trưng của thời đại xây dựng.
3. Với trên 60 công trình kiến trúc hiện còn, về niên đại cho thấy tháp được xây dựng sớm nhất vào thế kỷ VIII ( tháp Mỹ Khánh – Thừa thiên – Huế) và muộn nhất vào thế kỷ XVII ( tháp Po Rome- Ninh Thuận) và đa phần được xây dựng vào thế kỷ IX – XIII. Sự khác nhau về niên đại xây dựng này thể hiện qua bình đồ, quy mô, thành phần kiến trúc. Đặc biệt hơn là sự biến đổi của các  bộ phận khối kiến trúc, hoa văn hoạ tiết khắc tạc trang trí. Từ cơ sở này, các nhà nghiên cứu đã định ra phong cách nghệ thuật kiến trúc của các thời kỳ, với những đặc trưng điển hình. Tiến trình xây dựng gần một thiên niên kỷ trên một loại hình kiến trúc, cho nên có thể thấy các tháp Champa hiện còn, ngoài những đặc trưng cơ bản chung, mỗi giai đoạn có nét riêng điển hình riêng của thời đại như kỹ thuật xây dựng, hoa văn trang trí, cùng với tính địa phương của nơi xây dựng. Những đặc trưng đó thể hiện qua các lĩnh vực sau:
a. Đặc điểm chung:
- Tháp  được xây dựng với mục đích phục vụ cho tôn giáo, cụ thể là tôn giáo ảnh hưởng từ văn hoá  Ấn Độ. Tháp là ngôi nhà, nơi trú ngụ cuả thần linh, nên công trình này được xây dựng trên vị trí đẹp nhất, trang trọng nhất trên mỗi vùng đất và thoả mãn được giáo lý tôn giáo theo nhận thức của mỗi thời đại dựng xây.
- Vật liệu xây dựng tháp cơ bản là gạch.  Giai đoạn đầu gạch là vật liệu chủ yếu tạo nên hình hài kiến trúc, sau này có sự tham gia của  vật liệu đá, nhưng gạch vẫn giữ vai trò chủ đạo.
- Kỹ thuật xây dựng về cơ bản vẫn là xây mài chập liền khít kết khối vững chắc, hầu như không thấy mạch vữa liên kết, mặc dù có sự tham gia kết dính của nhựa cây.
- Các tháp đều được khắc tạc trang trí hoàn chỉnh, mỹ thuật đẹp có giá trị thẩm mỹ cao.
b. Những nét riêng.
 Do các kiến trúc được xây dựng về niên đại khác nhau, trên các địa phương khác nhau cho nên mỗi công trình kiến trúc là một tác phẩm độc lập, phản ánh thời đại sản sinh ra chúng. Sự khác nhau phản ánh  dưới các góc độ:
- Thời đại xây dựng tháp được thể hiện qua mô hình kiến trúc, khối kiến trúc, các bộ phận tham gia như: hệ thống đế tháp, thân tháp, cột tường, cột góc, diềm mái, điểm góc trang trí, tháp góc trang trí mái và chóp tháp.
-  Hoạ tiết trang trí tương thích với các bộ phận, khối kiến trúc, các hoạ tiết này được thể hiện biến đổi theo thời gian và sự nhận thức thẩm mỹ của mỗi thời đại. Mỗi hoạ tiết đều mang đặc trưng riêng, không trùng lặp, có sự kế thừa và thay đổi theo thời gian.
- Kỹ thuật xây dựng và kỹ thuật trang trí mỗi kiến trúc có sự thay đổi theo thời gian, phù hợp với kết cấu kiến trúc. Kỹ thuật xây dựng, từ xây mài khít liền khối cùng chất liệu gạch, tiến tới kỹ thuật lồng ghép giữa hai loại vật liệu gạch, đá, mà vẫn đạt hiệu quả cao, vừa bền vững, vừa có tính thống nhất. Kỹ thuật từ chạm khắc trực tiếp trên gạch, tiến tới sự kết hợp  giữa chạm khắc trang trí trực tiếp với các thành phần trang trí đất nung sẵn mà vẫn đạt giá trị thẩm mỹ, tạo nên vẻ đẹp riêng, khoẻ mạnh.
- Bên cạnh những yếu tố kiến trúc, mỹ thuật trang trí truyền thống Champa, do tác động của lịch sử, sự giao lưu, ảnh hương từ các nền văn hoá khu vực, các tháp Champa có giai đoạn được xây dựng vừa có tính truyền thống kết hợp với sự ảnh hưởng của các nền kiến trúc bên ngoài về khối, hoạ tiết trang trí.
 Như vậy, nhìn tổng quan có thể thấy các kiến trúc tháp Champa  được dựng xây trong lịch sử vừa có tính thống nhất, vừa có sự  đa dạng, làm nên một truyền thống nghệ thuật kiến trúc Champa độc đáo riêng biệt, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc “ không thua kém bất kỳ một nền văn hoá  cao đẹp nào thời cổ đại và trung cổ ở Đông Nam á”
II Khảo cổ học và trùng tu tháp Champa
 Cho đến nay, các tháp Champa hiện còn, có tuổi đời tồn tại ít nhất là gần 400 năm ( tháp Porome- Ninh Thuận), nhiều nhất là trên 1000 năm trong lịch sử. Tồn tại trên dải đất khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiều bão tố, các điều kiện tự nhiên can thiệp cùng những biến động chiến tranh, cho nên các kiến trúc hầu như bị  hư hại, không còn giữ nguyên được dáng vẻ ban đầu. Đặc biệt các cuộc chiến tranh đã tàn phá huỷ hoại không ít các công trình kiến trúc như các di tích: Đồng Dương- Mỹ sơn ( Quảng Nam). Với giá trị lịch sử hiện còn, các kiến trúc này đều được xếp hạng là  di sản văn hoá nước nhà, và có di tích được công nhận là Di sản văn hoá thế giới. Chính vì thế hầu hết các tháp được quan tâm gìn giữ, bảo vệ và có kế hoạch trùng tu, tôn tạo. Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của nhà nước, sự quan tâm của các tổ chức  văn hoá trong và ngoài nước, hầu  hết các tháp Champa được gia cố bền vững, hay trùng tu, trả lại giá trị ban đầu. Nhiều tháp đã đạt được những hiệu quả tốt như:  Mỹ Khánh ( thừa Thiên – Huế); PoKLLong Giarai ( Ninh Thuận); tháp Đôi ( Bình Định) vv.. Đặc biệt khu  đền tháp Mỹ Sơn, với giá trị độc đáo được dựng xây trong lịch sử, được quan tâm thường xuyên trong quá trình bảo vệ và trung tu khu di tích quan trọng này, mở đầu bằng sự gia cố, tôn tạo với sự giúp đỡ của các chuyên gia trùng tu Ba Lan. Trong quá trình trùng tu, tôn tạo các kiến trúc tháp Champa, ngành Khảo cổ học đã có những đóng góp quan trọng, là trợ thủ đắc lực  giúp cho việc trùng tu, tôn tạo đạt hiệu quả cao nhất.  Tài liệu khảo cổ thu được qua mô tả, bản vẽ, bản ảnh, trước hết giúp cho các nhà trùng tu hiểu về  mỗi kiến trúc tháp dưới các góc độ niên đại xây dựng,  đặc trưng về mặt bằng, khối, bộ phận kiến trúc; đặc trưng của hoa văn trang trí, kỹ thuật điêu khắc, vật liệu, kỹ thuật xây dựng, làm tư liệu ban đầu, định hướng cho các nhà trùng tu hình dung nội dung công việc của mình. Theo  nguyên tắc “ Việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải đảm bảo tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích”.  Các cuộc khai quật khảo cổ tìm kiếm những thành phần kiến trúc bị sụp đổ vùi lấp, trả các hiện vật thu được về đúng vị trí công năng đảm nhận ban đầu, trở lại tình trạng đã biết trước kia. Cung cấp tư liệu tin cậy cho việc trùng tu phục dựng, đáp ứng yêu cầu “ trùng tu chỉ thích đáng khi có đầy đủ bằng chứng về tình trạng trước đó của kết cấu”. Với những mục tiêu đó, trong thời gian vừa qua, được sự chỉ đạo của Cục Di sản ( Bộ Văn hoá - Thông tin)theo phương châm Khảo cổ học phải đi trước một bước trong việc trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử, trong đó có các tháp Champa đã được thực hiện đúng theo nguyên tắc này.

Tại Mỹ Sơn, nếu trước đây các nhà Khảo cổ tham gia tích cực vào góp phần gia cố, tôn tạo lại bước đầu các kiến trúc bị hư hại, thì những năm gần đây các cuộc khai quật khảo cổ đã đi đầu trong các kế hoạch chuẩn bị cho việc trùng tu. Nhiều cuộc khai quật được tiến hành tại các nhóm tháp F ( năm 2002); nhóm G năm 2005 – 2006 đã chuẩn bị tốt tư liệu cho công tác trùng tu sau này. Ngoài sự tham gia của các nhà khảo cổ học Việt Nam, sự có mặt của các nhà khảo cổ Ytalia đã làm cho công tác khai quật khảo cổ được hoàn thiện hơn. Những cuộc khai quật này đã  cung cấp tư liệu chính xác, góp phần  định rõ niên đại, các thành phần kiến trúc bị mất, bản chất của vật liệu xây dựng, kỹ thuật xây dựng của các nhóm tháp F – G. Từ cơ sở khoa học đó, định hướng cho việc trùng tu các nhóm tháp này một cách hiệu quả hơn, từng bước trả lại giá trị văn hoá ban đầu của mỗi kiến trúc. Với 8 nhóm tháp, có trên 20 công trình kiến trúc hiện còn, của nhiều loại hình, có nhiều niên đại khác nhau ở Mỹ Sơn, do vậy việc trùng tu mỗi tháp phải dựa trên kết quả khảo cổ của chính kiến trúc đó. Trong mật độ di tích mỗi nhóm khá dày đặc, có niên đại khác nhau, việc xác định rõ các thành phần kiến trúc tìm được của mỗi công trình cần được khảo cứu tỉ mỉ, đưa ra tư liệu tin cậy để giúp cho việc trùng tu có hiệu quả. Chưa kể trong lịch sử, nhiều tháp đã từng được chính chủ nhân xây dựng trùng tu tôn tạo lại dễ có nét tương đồng, cho nên việc tiến hành khai quật, nghiên cứu thận trọng, là việc làm không thể thiếu. Có thể nói, cho đến nay công việc trùng tu, tôn tạo  các kiến trúc ở Mỹ Sơn mới chỉ là khởi động ban đầu, điều đó cho thấy khảo cổ học cần đi trước một bước trong công việc tôn tạo trùng tu tháp Champa là cần thiết./.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

VĂN HÓA XỨ QUẢNG
QUA NHỮNG DI TÍCH Ở CẨM LỆ

              Cẩm Lệ là một vùng đất thuộc không gian xứ Quảng xưa trong lịch sử. Một vùng đất hội tụ địa tự nhiên, núi ( núi Cẩm Lệ), sông( sông Yên- sông Cẩm Lệ), đồng bằng xen lẫn đầm phá, gò đồi với hệ thống giao thông thủy bộ khá thuận lợi. Đây là vùng đất   từ lâu đã được con người khai phá, sinh sống đắp bồi theo thời gian tạo nên một vùng văn hóa hòa chung  tạo nên một văn hóa xứ Quảng trong lịch sử.
Văn hóa xứ Quảng được hình thành từ nhiều nguồn trong lịch sử, nhưng hai dòng chảy chính góp nên diện mạo ngày nay từ văn hóa Champa và văn hóa Việt. Hai nền văn hóa này do điều kiện lịch sử đã hội nhập, kế thừa, chắt lọc để hình thành nên sự đặc sắc riêng biệt trên vùng đất Quảng, trong đó có Cẩm Lệ. Không gian văn hóa vùng đất này xuất hiện sớm, manh nha từ văn hóa Sa Huỳnh theo suốt tiến trình lịch sử với văn hóa Champa đằng đẵng hơn nghìn năm, cho đến nay gần ngàn năm văn hóa Việt. Hai nền văn hóa của hai tộc người, kế tiếp, hòa trộn nhau, đã góp thêm gam màu lộng lẫy vào nền văn hóa dân tộc đa sắc màu.
I. Văn hóa Champa tầng nền của văn hóa xứ Quảng.
 Văn hóa  Champa được hình thành và phát triển trên vùng đất từ thế kỷ II đến thế kỷ XV với vị thế xứ Quảng là  trung tâm, nơi định đô của vương triều từ thế kỷ V đến thế kỷ X với hai trung tâm lớn là Trà Kiệu( Simhapura và Đồng Dương( Inddrapuurra).Vùng đất Cẩm Lệ vốn là một phần đất của trung tâm ấy, chính vì thế nơi đây cho đến nay còn để lại nhiều dấu tích, di vật của nền văn hóa này. Những kết quả điều tra, khai quật khảo cổ học cho biết nơi đây còn nhiều di tích được xây dựng có quy mô lớn, điêu khắc mỹ thuật đẹp đóng góp làm nên diện mạo văn hóa Champa trong lịch sử.
1. Di tích phế tích tháp Phong Lệ:
Khu di tích Chàm Phong Lệ phân bố trong 1 không gian rộng lớn, cách quốc lộ 1 khoảng vài trăm mét về phía Đông và cách sông Cầu Đỏ khoảng gần 500m về phía Bắc - Đông Bắc thuộc địa phận Thôn 3, Phường Hòa Thọ Đông, Quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng. Đây là vùng đất đồn điền Phong Lệ của ông chủ C.Paris – vị điền chủ kiêm học giả.(1)
Trên cơ sở của một kiến trúc tôn giáo Champa trước kia, khi sử dụng vùng đất này làm đồn điền của mình. C. Paris  đã  tìm thấy những tác phẩm điêu đá mà sau này đưa về trưng bày tại BT điêu khắc đá Đà Nẵng., trong đó có tấm trang trí vòm cửa tháp thể hiện điêu múa vũ trụ của thần Shiva có giá trị nghệ thuật cao. Bên cạnh đó là tượng bò Nandin, đá trang trí điểm góc được khắc tạc trang trí đẹp.
Trang trí vòm cửa tháp(Typam)- Phong Lệ
Một thế kỷ sau, trải qua những biến động xã hội cùng điều kiện tự nhiên di tích Phong Lệ lại được “tái phát hiện” và biết đến, nhưng phần nào rõ hơn bởi qua cuộc khai quật khảo cổ học “mở vào lòng đất”.Cuộc khai quật năm 2010 -2011 đã bước đầu xác định quy mô kiến trúc tháp cùng những "nghi lễ thiêng" khi xây dựng tháp với nhiều hiện vật đá trang trí kiến trúc.Những tác phẩm điêu khắc được biết cho thấy có cùng phong cách thể hiện như tác phẩm điêu khắc đá tìm được trước đây tại di tích
Từ tổng thể các di tích, di vật được phát hiện qua khai quật có thể thấy phế tích tháp Phong Lệ  là một khu di tích có quy mô lớn, trang trí mỹ thuật đẹp là một trung tâm tôn giáo lớn được người Chăm xây dựng và sử dụng lâu dài trong lịch sử.Dựa vào kết quả tìm được ban đầu có thể thấy di tích Phong Lệ được người Chăm xây dựng vào cuối  thế kỷ XII thuộc phong cách kiến trúc chuyển tiếp từ phong cách Mỹ Sơn A1 sang phong cách Bình Định.
.2. Chùa An Sơn, thuộc phường Hòa An, quận Cẩm Lệ. Chùa với được xây
dựng lại khoảng năm 2002 - 2004 kế thừa trên địa điểm của một di tích kiến trúc Champa trước đây.Qua cửa tam quan trước chùa dùng 4 trụ đá sa thạch thuộc kiến trúc Chăm, trong đó có 2 trụ dài ở giữa chạm khắc hoa văn xoắn hình sâu thành từng băng chạy chéo quanh thân trụ. Đây là hai cột cửa của vòm cửa dẫn thuộc kiến trúc tháp Chăm được tận dụng lại, chôn sâu xuống đất.  Hiện vật đá liên quan đến tháp xưa gồm: một bệ bằng đá sa thạch, chạm hai bông sen ngược chiều nhau, mỗi bông có 2 lớp cánh, 7 chân tảng đá kê cột hình vuông.Đặc biệt có một bệ Yoni hình vuông, kích thước 1,14m x 1,14m x 16cm (dài x rộng x dày), chính giữa mặt bệ có lỗ mộng hình vuông (12cm x 12cm) để gá lắp Linga- Yony  Ngoài ra tại địa bàn còn thu được nhiều viên gạch của Chăm màu đỏ từ kiến trúc tháp bị sụp đổ.Bên phải chùa có miếu thờ, trong đó có 1 pho tượng mang phong cách nghệ thuật Chăm có kích thước cao 45cm, rộng vai 25cm được đặt trên bệ bằng đá có kích thước rộng 24,5cm, dài 28cm, cao 11cm.
          Theo sư trụ trì của chùa An Sơn, các hiện vật này đều nằm trong phạm vi của chùa, được phát hiện và thu gom trong quá trình xây dựng chùa mới hiện này. Như vậy, với số lượng hiện vật nhiều, loại hình phong phú, thì có thể chùa An Sơn nằm bên trên một phế tích tháp Chăm.Dựa vào hiện vật thu được cho thấy phế tích kiến trúc tháp này được xây dựng vào thế kỷ IX- X thuộc phong cách nghệ thuật thời kỳ Đồng Dương.
  Nêu những di tích điển hình trên địa bàn Cẩm Lệ, có thể  thấy văn hóa Champa là một phần của văn hóa vùng đất trong lịch sử.
II. Văn hóa Việt- sự kế thừa và phát triển.
 Kể từ khi vùng đất này hội nhập vào lãnh thổ Đại Việt, bên cạnh văn hóa Champa,  con người Việt, văn hóa Việt dần hội nhập và phát triển. Trước hết người Việt vào định cư vùng đất mới, mang theo  biểu trưng văn hóa của dân tộc mình vào xây dựng trên vùng đất  đó là những ngôi đình. Đình ở Cẩm Lệ hiện nay còn khá nhiều, tập trung trên địa bàn người Việt sinh sống lâu đời như : Đình Trung Lương, Tùng Lâm, Lỗ Giáng( Phường Hòa Xuân); đình Hòa An( Phường Hòa An); đình Phong Lệ Bắc( Phường Hòa Thọ Tây) vv... Đây là những công trình tín ngưỡng, mang đậm tính dân tộc, nơi hội tụ tinh thần văn hóa Việt. Những ngôi đình được xây dựng theo kiến trúc truyền thống Việt, nơi thờ cúng tế tự vị thần hoàng bảo trợ cho cộng đồng. Trên vùng đất mới còn thờ các vị tiền hiền khai canh lập làng. Đây còn là nơi diễn ra các nghi lễ, phong tục, các sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng.
Bên cạnh đó là hệ thống di tích miếu thờ, chùa, nhà thờ họ được dựng xây đáp ứng nhu cầu tinh thần, tín ngưỡng tôn giáo của người dân Việt hình thành nên hệ thống di tích ở đây.
Các di tích Việt được xây dựng ở đây theo hai xu hướng:
Các di tích được xây dựng theo quan niệm văn hóa Việt về vị trí, phong thủy, phong cách kiến trúc, phong tục, tập quán cùng các nghi lễ khẳng định bản sắc văn hoá tộc người
 Nhiều di tích tín ngưỡng tôn giáo Việt được dựng xây kế thừa trên địa điểm vùng đất di tích văn hóa Champa. Miếu thờ  thần bên cạnh tháp Phong Lệ, hay chùa An Sơn được xây dựng kế thừa trên nền di tích tháp Champa cổ xưa
Kế thừa trên vùng đất thấm đậm văn hóa Champa, các di tích văn hóa Việt được xây dựng đều lấy các dòng sông chảy trên địa bàn làm trục chính. Dòng sông Yên trên địa bàn Cẩm Lệ cho thấy đây là dòng chảy xuyên xuốt trong nền văn hóa Chăm -Việt. Trước tiên phải khẳng định rằng, trước khi người Việt và văn hóa Việt được hội nhập, đây là địa bàn cư trú lâu đời và đã hình thành lên các đặc trưng văn hóa của cư dân Chăm. Trong suốt quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam, các lớp cư dân Việt  dần dần tiến vào, sống cộng cư, tiếp thu và tiếp biến các nét văn hóa Chăm rồi dần cải biến hình thành lên những nét của văn hóa Việt, nhưng ẩn chứa trong di tích Việt có các tàn tích của văn hóa Chăm trước đó.
 Trong các loại hình di tích trên, đặc biệt lưu ý đến hai lại hình chính, đó là các miếu thờ - thể hiện sự tiếp biến từ văn hóa Chăm sang văn hóa Việt và các ngôi đình làng – thể hiện nét đặc trưng của văn hóa Việt. Một điều nhận thấy đó là về cơ bản địa bàn cư trú ban đầu của người Việt trùng khớp với địa bàn cư trú của người Chăm.Tuy nhiên, quá trình tồn tại và phát triển, không gian văn hóa của người Việt dần được mở rộng hơn, do vậy địa bàn phân bố các di tích cũng được mở rộng.
          Các di tích của người Việt có sự phong phú hơn với các loại hình thể hiện nét đặc trưng của sinh hoạt cộng đồng, như: miếu thờ, chùa, đình vv...
Về qui mô, các ngôi miếu thờ không thể so sánh được với sự rộng lớn, bề thế của các ngôi đình. Các ngôi miếu nói chung thường chỉ có một hoặc hai gian thờ, thì các ngôi đình thể hiện sự vững chãi với hệ thống kiến trúc khung cột gỗ chắc chắn, kết cấu bộ khung chắc chắn với các kết cấu ngang – dọc. Đồ thờ bên cạnh những di vật mang văn hóa Việt thì những đồ thờ trong các tháp Champa cũng được người Việt trân trọng đưa vào nơi thờ tự của mình. Bệ thờ tháp Champa được đưa vào làm bệ thờ đình Lỗ Giáng là ví dụ.
          Tín ngưỡng của cư dân Chăm là tín ngưỡng thờ mẫu - mẹ xứ sở, khi người Việt vào đây, tín ngưỡng này đã nhanh chóng được người Việt tiếp thu – người Việt cũng có tín ngưỡng thờ mẫu – Mẹ. Mẫu số chung này đã đưa đến sự hòa hợp, cộng cư đan xen giữa hai cộng đồng dân cư, phản ánh buổi đầu đi về phương Nam của người Việt. Các ngôi miếu thờ hiện nay có niên đại trong khoảng thế kỷ 16 – 17, đó cũng là giai đoạn nền móng, có những bước tiến vững chắc của cư dân Việt. Lịch sử ghi nhận, đây cũng là thời kỳ có các bước tiến mạnh mẽ của chính quyền phong kiến trong việc xác lập và quản lý các vùng đất của người Chăm trước đó.
          Các ngôi miếu này đều được xây dựng bởi người Việt, và nằm trên các địa bàn cư trú ban đầu của người Chăm. Phải chăng đây chính là sự ảnh hưởng, tiếp thu các tin ngưỡng của cư dân Việt, một số ngôi miếu có tượng thờ là các tượng mang phong cách văn hóa Chăm.
          Quá trình sinh sống, mật độ cư dân được mở rộng, tính chất cộng cư tăng lên đã hình thành lên các đơn vị xã hội lớn rộng hơn của người Việt, đây là nền tảng kinh tế ban đầu cho sự hình thành tín ngưỡng thờ Thành hoàng – Tiên hiền, hình thành lên các ngôi đình mang đặc trưng về kiến trúc và tín ngưỡng của người Việt. Các ngôi đình ở Cẩm Lệ có niên đại không sớm hơn thế kỷ 18 đã góp phần minh chứng cho vấn đề trên.
          Các ngôi đình ra đời và gắn liền với cộng đồng cư dân Việt quần cư trên một địa bàn rộng, do vậy nơi nào có tính chất quần cư đủ lớn thì nơi đó ngôi đình ra đời và trong một số ngôi đình đã có sự tận dụng, kế thừa các thành phần từ các kiến trúc văn hóa Chăm. Phải chăng điều đó khẳng định, mặc dù đã hình thành một nét kiến trúc mang đặc trưng của cư dân Việt, nhưng vẫn kế thừa yếu tố địa lý tín ngưỡng của cư dân trước đó. Đây có lẽ là sự kế thừa từ những lớp cư dân Việt vào đây sớm hơn – người Việt kế thừa văn hóa Chăm.

          Trong tổng thể văn hóa xứ Quảng nói chung và Cẩm Lệ nói riêng, có thể phân kỳ thành những cơ tầng văn hóa trong lịch sử theo tiến trình: văn hóa Champa - văn hóa Chăm Việt - văn hóa Việt. Các cơ tầng văn hóa kế thừa nhau thành một tổng thể thống nhất, có mối quan hệ khăng khít, tính kế thừa trên cùng vùng đất địa môi trường tạo nên vùng địa văn hóa.Văn hóa Chăm-pa có chiều dài có chiều dài hơn 1000 năm phát triển đã để lại những thành tựu rực rỡ, những đền đài to lớn, mỹ lệ, những tác phẩm điêu khắc tinh xảo mang đậm bản sắc văn hóa tộc người đã từng tỏa sáng trên vùng đất. Khi văn hóa Việt có mặt, những thành tựu văn hóa Chăm-pa được người Việt tôn trọng tiếp thu tôn thờ dần Việt hóa. Những kiến trúc tháp do thời gian đổ nát được người Việt coi là địa điểm thiêng dựng miếu thờ. Những tượng Chăm-pa được người Việt đưa vào các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo của mình, thờ trong miếu, trong chùa, đình… Theo thời gian, văn hóa Chăm hội nhập cùng văn hóa Việt, hai nền văn hóa này không có sự kỳ thị mà tương hợp nhau để hình thành nên văn hóa Việt mang bản sắc phương Nam. Đó chính là những giá trị lịch sử và văn hóa để lại cho đến ngày nay, bất chấp sự thăng trầm của lịch sử, thể hiện sức sống trường tồn của văn hóa Việt trong đó có sự góp mặt của văn hóa Chămpa./.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

TƯỢNG KÚT CHAMPA Ở BÌNH THUẬN

 Trong nghệ thuật điêu khắc đá Champa, tượng Kút là một loại hình nghệ thuật đặc biệt. Về không gian, loại hình này chỉ xuất hiện từ tỉnh Phú Yên đến tỉnh Bình Thuận, đặc biệt tập trung ở Ninh Thuận, Bình Thuận - địa bàn cư dân Chăm cư trú cho đến hiện nay. Về thời gian, cho đến nay nguồn gốc của loại hình này vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu làm sáng tỏ, có phải Kút có nguồn gốc từ loại hình tượng thờ trong nghệ thuật Champa niên đại khá muộn, hay xưa hơn là từ tục thờ đá của người Chăm trong lịch sử có nguồn gốc niên đại khá sớm. Về hình dáng tạo tác, các nhà nghiên cứu đều cho rằng Kút có hình thức tương tự như các bia mộ của người Việt, Trung Hoa hay người theo đạo Hồi ở Inđônêxia. Về góc độ tín ngưỡng thì chức năng của Kút hiện thấy là một biểu hiện hình thức tang ma của người Chăm. Dù còn nhiều vấn đề cần tiếp tục lý giải, nhưng hiện hữu cho đến nay người Chăm vẫn làm, sử dụng Kút trong tang lễ của mình và vẫn thờ các Kút cổ xưa của tổ tiên truyền lại trong các đền thờ, nhà thờ dòng họ. Chính vì thế việc nghiên cứu loại hình Kút là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm cách lý giải. Để góp phần tìm hiểu loại hình nghệ thuật này, dựa trên tư liệu của nhóm Kút trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, bước đầu chúng tôi thử hệ thống hoá và đưa ra một vài kiến giải.
I. TƯỢNG THỜ - KÚT THỜ Ở BÌNH THUẬN
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, đặc biệt là huyện Bắc Bình nơi người Chăm sinh sống còn khá nhiều địa điểm thờ Kút. Có đền thờ, nhà thờ họ vẫn còn sử dụng, nhưng cũng không ít đền thờ đã bị đổ nát không còn thờ phụng, những Kút ở đây bị bỏ hoang nằm tại chỗ, hoặc một số được đưa về bảo quản tại Bảo tàng tỉnh (Nguyễn Trường Đông, Lê Đình Phụng 2002). Sau đây là những địa điểm, những Kút được khảo sát.
1. 1. Đền PoNít
Đền PoNít thuộc địa bàn thôn Bình Hiếu, xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình, được xây dựng trên vùng đất rộng phẳng nằm ven Quốc lộ I. Trong khu đền hiện nay còn thờ khá nhiều tượng và Kút.
- Trong đền thờ, gian chính thờ tượng Vua PoNít, 2 gian bên cạnh thờ 2 Hoàng hậu. Bên cạnh tượng Hoàng hậu thứ nhất là bệ thờ Kút, theo bà con địa phương truyền lại, đây là Kút thờ người con trai Hoàng hậu. Kút được tạo dáng hình khối thon dẹt cao 0,82m, rộng ngang 0,5m, đầu và chân thon lại. Mặt Kút để trơn không trang trí. Kút đặt trên bệ hình khối hộp, trên mặt bệ là Yony hình chữ nhật cạnh dài 0,67m, rộng 0,58m, vòi dẫn vươn ra dài 0,09m có khe hẹp dẫn nước thiêng khi thờ cúng. Kế tiếp là Kút thờ người con gái. Kút là khối đá thon dài, hai đầu thót lại được chôn sâu xuống nền đền thờ. Kích thước đo được cao 0,6m, rộng nhất 0,36m. Mặt lòng Kút đục lõm dọc, toàn bộ để trơn không trang trí.
Kế tiếp tượng Hoàng hậu thứ hai là 4 Kút thờ. Tương truyền đây là 4 Kút thờ 4 người con gái do vị Hoàng hậu này sinh ra. Kút được tạo dáng hình cánh sen, mũi uốn cong vươn ra, đuôi thon dần được chôn sâu xuống nền đền thờ. Kích thước (dài x rộng) các Kút: (0,49x0,31; 0,67x0,4; 0,48x0,43 và 0,45x0,45)m.
- Ngoài đền thờ, hai bên sân hiện có hai dãy Kút dựng đăng đối nhau qua đền. Theo nhân dân địa phương, hai dãy Kút này là vật thờ những bà con trong hoàng tộc Vua PoNít. Dãy bên phải thuộc về họ nội, dãy bên trái thuộc về họ ngoại.
Dãy bên trái có 7 tượng, 4 tượng được tạo dáng chung là phiến đá dẹt dài, mũi hình cung tù, lượn tròn rồi thắt dần xuống dưới, trên một số chiếc tạc hoa văn trang trí, 3 chiếc tạo dáng hình tượng người nhưng giản lược với khối lượn tròn phân biệt đầu, vai và thân. Có 4 chiếc lòng Kút thể hiện cột thiêng chính giữa. Mặc dù vậy các Kút này vẫn được chế tác hoàn chỉnh, đường nét tạo dáng, khối gọn gàng trau chuốt được coi là một tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh. Toàn bộ số Kút này được đặt trên bệ xây xi măng hình khối hộp, dựng vững chắc (Ảnh 1, 2). Kích thước các Kút như sau:
TT
Chiều cao (m)
Chiều rộng (m)
Dày (m)
Bệ: Dài x rộng x dày
1
2
3
4
5
6
7
0,76
0,8
0,62
0,69
0,46
0,49
0,52
0,43
0,38
0,38
0,41
0,32
0,43
0,35
0,2
0,18
0,18
0,17
0,16
0,23
0,18
0,65x0,47x0,185
0,54 x 0,36 x 0,18
0,54 x 0,54 x 0,12
0,50 x 0,35 x 0,14
Dẫy bên phải có 4 tượng Kút, trong đó có 1 tượng được xây bệ gạch xi măng, 3 tượng dạng bệ đá thờ.
Tượng số 1 bệ đá hình khối hộp chữ nhật dài 0,56m, rộng 0,47m, dày 0,185m, thành mặt đứng trang trí hình núm vú tròn nhỏ kết dải vây xung quanh. Kút tạo dáng hình lá sen mũi nhọn, vai vê tròn dưới thắt có chân đỡ. Mặt phía sau để trơn, mặt phía trước xung quanh khắc diềm, dưới chân là 6 hoạ tiết bông hoa hình 6 cánh, xung quanh là hoa văn hình móc xoắn và cánh sen nhìn nghiêng. Lòng Kút tạc hình trụ thiêng nhô lên. Kích thước cao 0,55m, rộng nhất 0,37m, dày 0,18m (Ảnh 4).
Tượng số 2 đặt trên bệ khối hộp xây xi măng, tạo dáng hình cung tù. Kích thước dài 0,54m, rộng nhất 0,36m, dày 0,18m.
Tượng số 3 đặt trên bệ đá hình khối hộp vuông. Kích thước cạnh bệ 0,54m, dày 0,12m. Kút tạo dáng hình cung tù cao 0,53m, rộng nhất 0,33m, dày 0,21m.
Tượng số 4 đặt trên bệ đá hình khối hộp chữ nhật dài 0, 5m, rộng 0, 35m, dày 0, 14m. Thành đứng tạc hình cánh sen kết dải vây quanh. Kút tạo dáng như hình người thể hiện ước lệ với các khối tương ứng các phần đầu, vai, ngực, thân cơ thể. Khối gọn khoẻ. Kích thước cao 0,47m, rộng ngang 0,35m, dày 0,135m (Ảnh 3).
Đây là khu đền hiện còn lưu giữ số lượng tượng Kút thờ nhiều nhất trên địa bàn.
1.2. Đền PoKlung Mơnai
Đền được xây dựng trên vùng đồi cát cao thuộc địa bàn thôn Mai Lãnh, xã Lương Sơn, huyện Bắc Bình. Đây vốn có tên là thôn Mơnai (Play Mơ nai). Đền thờ được xây dựng từ lâu trong lịch sử và được tu sửa nhiều lần, hiện nay được dòng họ Bà Nguyễn Thị Thềm - một dòng họ hoàng tộc người Chăm thờ cúng. Đền thờ vua Klung Mơnai hay còn gọi là PoMưk Taha, cùng Hoàng hậu và con cháu. Trong đền hiện nay còn thờ các tượng Kút sau:
Tượng vua PoKlung Mơnai và tượng 2 Hoàng hậu. Theo nhân dân địa phương, 1 Hoàng hậu có tên là Pia Xom và 1 Hoàng hậu là người Việt.
Kút thờ trong đền có 4 chiếc, đặt thẳng hàng với các tượng thờ.
Chiếc thứ nhất tạc hình cánh sen thon dài mũi nhọn, chân trang trí cánh sen kết dải, diềm trang trí hoa văn móc xoắn đối xứng nhau, lòng để phẳng không trang trí. Kích thước cao 0,46m, rộng nhất 0,43m, dày 0,06m.
Chiếc thứ hai tạo dáng hình cánh sen thắt giữa, mũi nhọn, vai uốn xuôi vê tròn, diềm tạc hoa văn xoắn đối xứng hai bên. Lòng trang trí cột thiêng như hình Linga nhọn nhỏ nhô lên. Kút đặt trên bệ khối hộp hình chữ nhật dài 0,52m, rộng 0,49m, dày 0,13m. Chiếc thứ ba tạo dáng hình cánh sen mũi nhọn, thân thon dài, hai diềm tạc hoa văn xoắn kết dải, lòng để trơn, đặt trên bệ khối hình hộp vuông, kích thước cạnh 0,55m, cao 0,17m, thành đứng tạc hoa văn cánh sen kết dải vây quanh. Kút kích thước cao 0,49m, rộng nhất 0,39m, dày 0,19m.
 Chiếc thứ tư tạo dáng hình cánh sen, hai diềm tạc hoa văn móc xoắn kết dải, lòng để trơn. Kút đặt trên bệ hình khối hộp chữ nhật cạnh dài 0,49m, rộng 0,39, cao 0,21m, thành đứng bệ trang trí hoa văn cánh sen kết dải vây quanh. Kích thước Kút cao 0,55m, rộng nhất 0,56m, dày 0,12m.
Bên ngoài đền có 1 Kút là khối đá thon dài dẹt dựng trước cửa cao 0,46m, rộng 0,22m, dày 0,12m đặt trên bệ xây gạch hình chữ nhật dài 0,57m, rộng 0,54m cao 0,27m. Theo nhân dân địa phương cho biết đây là Kút dựng thờ người nô bộc của vua PoKlung Mơnai.
1.3. Đền PoTầmMưk
Đền PoTầmMưk được dựng trên gò đất cao thuộc địa bàn thôn Xuân Quang, thị trấn Chợ Lầu, huyện Bắc Bình. Đền đã bị đổ nát lâu ngày nay chỉ là phế tích. Hiện nay, ở đây còn 4 tượng Kút nằm đổ ngổn ngang, Kút rời khỏi bệ vùi lấp trong lòng đất. Kút được tạo dáng hình cánh sen thon nhọn, bệ hình khối hộp chữ nhật. Một số Kút còn đo được kích thước dài 0,55m, rộng ngang 0,34m, dày 0,16m. Một số chiếc diềm tạc hoa văn hình dây uốn lượn hay hoạ tiết hình ngọn lửa uốn vươn lên. Bệ một số tạc hoa văn hoa 4 cánh nở xoè đều đối xứng (Nguyễn Thị Nhi 2002).
1.4. Đền Gò Cà Nương
Đền nằm cách phế tích đền PoTầm Mưk không xa và cũng bị đổ nát thành phế tích. Trên nền phế tích hiện còn một Kút nằm chôn sâu trong lòng đất. Kút là phiến đá dài thon nhọn, màu đỏ sậm, không khắc tạc hoa văn trang trí.
1.5. Đền PoYang Thok
Đền nằm trên gò đất cao ven đường liên thôn thuộc địa bàn thôn Bình Tiến, xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình. Trong đền hiện còn thờ 5 Kút chôn sâu xuống nền đền. Chiếc chính giữa tạo dáng hình thon dài, đầu thon nhọn vai xuôi, cao 1,02m, rộng 0,62m, dày 0,48m. Kút để trơn không trang trí, lòng tạc hoạ tiết hoa văn xoáy tròn hình núm vú. Hai chiếc bên phải hình thon nhọn cao 0,44m và 0,39m; rộng 0,37m và 0,33m; dày 0,18m và 0,19m. Diềm để trơn, lòng tạc cột thiêng hình Linga nhỏ nhọn vươn lên. Hai chiếc còn lại dáng thon nhọn, cao 0,43m và 0,46m; rộng 0,32m và 0,3m; dày 0,11m và 0,15m. Kút để trơn không trang trí.
1.6. Kút lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Bình Thuận
Nhận thấy Kút là một loại hình điêu khắc khá đặc biệt trong đời sống văn hoá của đồng bào dân tộc Chăm, trong nhiều năm qua Bảo tàng tỉnh Bình Thuận đã tiến hành sưu tầm, tập hợp lưu giữ một số Kút thờ trên địa bàn. Hiện nay có 3 Kút cùng bệ khá hoàn chỉnh được bảo quản tại đây.
Chiếc thứ nhất được tạo dáng như tấm bia mộ của người Việt với đỉnh uốn cong hình cung, diềm trang trí hoa văn móc xoắn tròn nối nhau, chân diềm trang trí hoa văn cách sen kết dải. Mặt Kút phẳng nhẵn chính giữa khắc cột thiêng hình Linga nhô lên. Chân có cốt cắm vào bệ. Kích thước cao 0,83m, rộng ngang 0,38m, dày 0,17m (Ảnh 5).
Chiếc thứ hai thể hiện tương tự như chiếc thứ nhất, điểm khác là hình vòng cung tù có tạc hoa văn hình móc xoắn uốn lượn quanh. Chính giữa lòng là cột thiêng hình Linga nhô lên giữa hoa văn móc uốn đều hai bên. Kích thước: cao 0,93 m, rộng 0,34m, dày 0,16m (Ảnh 6).
Chiếc thứ ba tạo dáng như một bia đá, phía trước lồi lên hình ảnh người phụ nữ tạc khối cách điệu với đầu mặt thể hiện ước lệ, hai bầu ngực to, xung quanh trang trí hoa văn xoắn. Kích thước: cao 1,07m, rộng 0,49m, dày 0,20m.
Cùng với Kút là 3 chiếc bệ hình khối hộp chữ nhật, mặt bệ có mộng xuyên thủng dùng để cắm Kút.
Bệ thứ nhất có 3 tầng thu nhỏ dần lên trên. Kích thước tầng dưới dài 0,23m, rộng 0,21m, dày 0,12m. Lỗ mộng cắm Kút dài 0,08m, rộng 0,07m, sâu 0,08m.
Bệ thứ hai hình khối hộp vuông. Kích thước cạnh 0,45m, cao 0,12m.
Bệ thứ ba khối hộp hình vuông cạnh 0,45m, cao 0,12m, mặt chính giữa có lỗ mộng vuông cạnh 0,15m. Thành đứng mặt bệ trang trí các núm vú tròn kết dải vây quanh mỗi cạnh có 16 và 14 núm vú.
Cùng với những Kút được biết đến ở Bình Thuận đã nêu, trước đây và trong nhiều năm gần đây, Kút đã được phát hiện và nghiên cứu trên nhiều vùng khác nhau.
- Tại bệ thờ Linga-Yony trong tháp PoKlong Gialai (Ninh Thuận) mặt thành đứng bệ thờ tạc hình người biểu tượng thần Siva đồng nghĩa với biểu tượng vua PoKlong Gialai, một biểu hiện của dạng Kút.
- Tháp PoRome (Ninh Thuận) thành đứng mặt bệ thờ Linga-Yony tạc biểu tượng thần Siva đồng nghĩa với biểu tượng vua PoRome cũng là một dạng của Kút.
- Tháp PoDam (Ninh Thuận) có Kút dựng thờ nhà thiên văn học PoGanuơr Mantri và nô bộc của vua Po Paghu.
- Năm 1990, trên địa bàn tỉnh Phú Yên phát hiện được 1 Kút tại thôn Đông Tác, xã Phú Lâm, huyện Tuy Hoà (Trần Kỳ Phuương 2002). Kút cao toàn bộ 0, 627m, chốt cắm dài 0, 15m; rộng 0, 357m; dày 0, 10m. Tác phẩm được chạm khắc cả hai mặt giống nhau mang tính đối xứng. Phần trên trang trí đồ án trong bố cục hình tam giác có đỉnh nhọn và có đường gờ hình kỷ hà ở đáy tam giác. Phần thân có hai vai xuôi tròn, trên vai có trang trí hình lá hai lớp gặp nhau ở chính giữa tạo nên hình mũi tên hướng về phía dưới, ở trung tâm có hình tròn kép, phía dưới thắt vào tạo thành hình cái eo, giữa eo có hình lá hai lớp tạo thành hình mũi tên hướng lên đối xứng với phần hình lá mũi tên của phần vai. “Nhìn chung, tấm Kút có dáng phảng phất của một hình người ngồi xếp bằng: có đầu vai, eo, rốn và chân tạo thành một khối chữ nhật. Mặc dầu chỉ được trang trí đơn giản nhưng tấm Kút Đông Tác có giá trị thẩm mỹ rất cao”(Sở Văn hóa Thông tin Thuận Hải 1989). Như vậy, có thể nói Kút thờ là loại hình thờ khá phổ biến của người Chăm trên vùng đất phía Nam, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và nghệ thuật Champa trong lịch sử.
Với những tài liệu trên có thể thấy những nét chung của Kút Champa như sau:
- Về chất liệu tuân thủ theo truyền thống nghệ thuật điêu khắc Champa, chất liệu chế tác Kút là đá. Đá thường có màu xám nhạt, hạt mịn, độ cứng không cao, dễ đục chạm tạo nên tác phẩm.
- Về tạo dáng, Kút thường có hình cánh sen chiếm chủ yếu. Từ Kút cánh sen dáng thon nhọn được biến thể thành các loại khác nhau với vai xuôi vê tròn, thắt giữa tạo nên nét độc đáo riêng của thời đại tạo tác ra chúng. Một số Kút tạo dáng hình người nhưng vẫn lấy dáng cánh sen làm nền chủ đạo tạo nên hồn của tác phẩm.
- Kỹ thuật chế tác thường có bệ riêng, Kút riêng gá lắp vào nhau theo kỹ thuật mộng khớp liên kết với nhau tạo nên vật thờ hoàn chỉnh. Một số Kút chế tác liền khối, hoặc không có bệ chôn trực tiếp xuống nơi thờ.
- Hoa văn trang trí Kút khá đơn giản, đa phần dùng hoạ tiết hoa văn thực vật, cánh hoa, hoa dây uốn lượn, hoạ tiết hoa xoắn hình ngọn lửa. Một số bệ Kút tạc hoa văn cánh sen, núm vú kết dải vây quanh. Trang trí lòng bệ Kút đơn giản, để phân biệt giới tính người quá cố, lòng Kút tạc hình cột thiêng, tương tự hình ảnh Linga thu nhỏ, biểu hiện đó là nam giới. Lòng Kút tác hoa văn xoắn hình núm vú biểu hiện đó là nữ giới.
Thông thường Kút nữ giới thường được tạo tác kích thước lớn hơn, trang trí đẹp hơn các Kút nam giới, điều đó chứng tỏ địa vị người phụ nữ được coi trọng hơn trong cộng đồng cư dân Champa trong thời kỳ này.
II. NIÊN ĐẠI VÀ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ
2.1. Niên đại
Cho đến nay khi nghiên cứu Kút, các nhà nghiên cứu đều thống nhất niên đại Kút khá muộn trong tiến trình nghệ thuật điêu khắc đá Champa, thuộc những giai đoạn kế tiếp của phong cách nghệ thuật PoRome “…tất cả dường như muộn hơn các ngẫu tượng ở PoRome…” (Lưu Trần Tiêu, Ngô Văn Doanh, Nguyễn Quốc Hùng 2000) và là giai đoạn cuối của nghệ thuật tượng thờ Champa. Những Kút này thường có niên đại thế kỷ XVI-XVII. Người ta cho rằng tượng bán thân PoRome (1627-1651) gắn với bệ thờ Linga-Yony tháp PoRome là dạng khởi đầu của loại hình này. “ Kút chứng minh một ý chí có dụng tâm làm biến hẳn tượng người… các Kút minh hoạ một sự tiến hoá thụt lùi, những Kút có tượng có thể là những Kút xưa nhất, những Kút trần trụi nhất thể hiện những sản phẩm cuối cùng của người Chàm…” (Boisselier 1963). Sau này người Chăm vẫn tiếp tục dựng Kút nhưng chỉ là những hòn đá bia mộ tự nhiên mà cho đến ngày nay vẫn còn sử dụng.
2.2. Giá trị văn hoá
Nằm trong truyền thống nghệ thuật điêu khắc Champa, cùng giá trị mỹ thuật, những tượng Kút còn phản ánh đời sống xã hội tôn giáo của cư dân Champa trong một thời kỳ dài lịch sử.
Trước hết về đời sống xã hội, Kút là vật thờ của người Chăm được dựng trong các đền lăng, nhà thờ dòng họ. Theo người Chăm cho biết những người được dựng Kút thờ là những người có địa vị trong xã hội (Vua, quan, hoàng tộc), trong dòng họ (tộc trưởng), khi chết phải “ sạch sẽ” chết già, chết bệnh, chết toàn thây trước sự chứng kiến của thân nhân và được thày Cả làm lễ, khi hoả thiêu xong mới tiến hành lễ nhập Kút và đưa vào thờ. Tang lễ của người Chăm trong lich sử là vấn đề phức tạp với nhiều nghi lễ khác nhau, bên cạnh tính truyền thống còn có sự thay đổi trong mỗi thời kỳ. Nhưng dựng Kút để thờ trong giai đoạn này là một hiện tượng thực tế, do vậy nhiều nhà nghiên cứu cố tìm về nguồn gốc của loại hình này. Có ý kiến cho rằng tục thờ Kút có nguồn gốc xa xưa của người Chăm trong lịch sử, từ tục thờ ông bà tổ tiên buổi ban đầu. Khi văn hoá Champa chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ, tục thờ cúng này hoà chung vào tôn giáo thờ phụng ở các tháp, thể hiện rõ là các vị vua thường gắn vương quyền với thần quyền, các tháp bên cạnh việc thờ phụng thần linh thường gắn với vị vua dựng xây tháp. Sau này khi không đủ điều kiện xây tháp, dựng tượng thờ thì tục thờ cúng các vị vua, ông bà dòng họ trở về cội nguồn, họ dựng Kút để thờ, để tưởng nhớ người đã khuất. “Tính chất phong phú lớn hoặc bé của Kút phụ thuộc nhất là vào ngôi thứ của nhân vật đã quá cố mà nó thể hiện… một vật tượng trưng nhắc lại ngôi thứ của người quá cố” (Maspero 1928).
Có ý kiến cho rằng, Kút thờ của người Chăm ảnh hưởng của bia mộ đạo Hồi mà hiện thấy phổ biến tại Inđônêxia, Malaixia, Campuchia. Chẳng hạn, ý kiến của Bồ Xuân Hồ “Những Kút ở miền PhanRí không phải là không có liên quan với các tấm bia của các ngôi mộ Hồi giáo ở Gia va mà chúng ta còn tìm thấy lại ký ức trong cách cấu tạo một vài tấm bia của các nghĩa trang Chàm Hồi giáo ở Campuchia… chắc chắn là một ảnh hưởng của Hồi giáo” (Bồ Xuân Hồ 1997). Hay, ý kiến của Boisselier “có thể là chứng cứ cho sự truyền bá của đạo Hồi từ bán đảo Mã Lai vào Champa trong thời cực thịnh của ngành hải thương Hồi giáo ở Đông Nam Á…” (Boisselier 1963).
Dựa vào chức năng và hình dáng tạo tác Kút cũng có ý kiến cho rằng “ đã có ảnh hưởng của các tấm bia của Trung Quốc và Việt Nam” (Nguyễn Duy Tỳ, Lê Minh Phong 1993) khi miền đất này có mối giao lưu mật thiết với văn hoá Việt thế kỷ XVI-XVII. Như vậy, nguồn gốc của Kút có nhiều kiến giải khác nhau. Dựa vào những Kút được khảo sát, chúng tôi thấy các Kút thường được tạo dáng hình cánh sen, tương tự như những tấm bia đá Champa một loại hình được sử dụng khá phổ biến trong nghệ thuật Champa. Trang trí các Kút cho thấy sử dụng nhiều hoạ tiết quen thuộc trong nghệ thuật Champa như hình cánh sen, hình núm vú kết dải có từ nghệ thuật Trà Kiệu, Tháp Mẫm, hay trang trí trên tháp Dương Long (Bình Định). Điều đó cho thấy hình dáng và trang trí Kút nằm chung trong dòng chảy nghệ thuật Champa. Hiện tượng thờ cúng tổ tiên là một truyền thống tín ngưỡng bản địa trong đời sống tinh thần của người Chăm, bên cạnh những tôn giáo sơ khai thờ đa thần ( hòn đá, núi sông, cỏ cây…), các hiện tượng tự nhiên (mưa nắng, sấm sét, biển cả…). Khi văn hoá Ấn Độ truyền bá vào, bên cạnh Ấn Độ giáo, trong nhân dân vẫn duy trì tín ngưỡng của mình, tục thờ tổ tiên ông bà, cha mẹ. Nếu thời gian trước, khi Ấn Độ giáo phát triển phong tục đó được ẩn vào thờ cúng trong các tháp - những trung tâm tôn giáo, thì thời kỳ này khi các tháp không được xây dựng tục thờ cúng lan toả ra các cộng đồng cư dân mà hình thức của nó biểu hiện qua các Kút.
Như vậy, sự xuất hiện Kút trong nghệ thuật điêu khắc Champa, những vấn đề xung quanh Kút còn nhiều cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ, nhưng Kút là một sản phẩm bản địa độc đáo của người Chăm, gắn bó mật thiết với đặc trưng tín ngưỡng thờ tổ tiên, tang lễ Champa. Việc gìn giữ nghiên cứu loại hình này, một bộ phận cấu thành của văn hoá Champa là vấn đề cần được quan tâm làm sáng tỏ, thúc đẩy việc nghiên cứu văn hoá Champa toàn diện hơn trong tương lai.
TÀI LIỆU DẪN
BOISSELIER J. 1963. La Statuarie de Champa. Paris 1963 (Nghệ thuật tạc tượng của nước Champa. Bản dịch tư liệu Viện Khảo cổ học).
BỒ XUÂN HỒ 1977. Tín ngưỡng tượng Kút ở vùng Chàm Thuận Hải. Dân tộc học, số 4: 17-22.
LƯU TRẦN TIÊU, NGÔ VĂN DOANH, NGUYỄN QUỐC HÙNG 2000. Giữ gìn những kiệt tác kiến trúc trong nền văn hoá Chăm. Nxb. Văn hoá Dân tộc. Hà Nội.
MAXPERO G. 1928. Le Royaume de Champa. Paris 1928 (Vương quốc Champa. Bản dịch tư liệu Viện Khảo cổ học).
NGUYỄN DUY TỲ, LÊ MINH PHONG 1994. Điều tra khảo cổ văn hoá Chàm ở Ninh Thuận năm 1993. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1993. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 284-285.
NGUYỄN THỊ NHI… 2002. Phế tích PoTầm MưK (Bình Thuận). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2001. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 840.
NGUYỄN TRƯỜNG ĐÔNG, LÊ ĐÌNH PHỤNG 2003. Kút người Champa ở Bình Thuận. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2002. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 837-840.
SỞ VĂN HOÁ THÔNG TIN THUẬN HẢI 1989. Người Chăm ở Thuận Hải.

TRẦN KỲ PHƯƠNG 2003. Về hai hiện vật thuộc nghệ thuật Champa tại Bảo tàng Phú Yên. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2002. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 846-849. 

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

DẤU TÍCH VĂN HÓA CHĂM
 TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA THĂNG LONG

            Vào cuối thế kỷ X, khi dân tộc Việt giành được độc lập, định đô tại Hoa Lư, mối quan hệ Việt – Chăm được xác lập trên tầm cao mới - mối quan hệ của hai tộc người độc lập. Nếu trước kia khi dân tộc Việt chìm trong đêm trường tăm tối ngàn năm Bắc thuộc, thì người Chăm đã giành được độc lập từ thế kỷ II ( 192) và xây dựng nên một nền văn hóa dân tộc đặc sắc tỏa sáng trên vùng Đông Nam á. Trong điều kiện mới, buổi đầu độc lập, văn hóa Việt sau ngàn năm gìn giữ nay có điều kiện dần phục hồi, xây dựng và tỏa sáng thì mối quan hệ với  văn hóa Chăm có tiền đề phát triển. Mối quan hệ đó diễn ra đa chiều, trên mọi lĩnh vực và văn hóa Chăm đã phần nào góp thêm những màu sắc làm phong phú văn hóa Việt trong lịch sử. Theo sử liệu ghi chép dưới triều Lê Đại Hành:Năm 982, "Vua Thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được...bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một người thầy tăng người Thiên Trúc; lấy các đồ quý mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tôn miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư" . Những người Chăm được đưa về Hoa Lư đã để lại dấu ấn khá nhiều trên vùng đất kinh đô này.  Những phát hiện về cột kinh tại Hoa Lư mang đậm yếu tố Mật Tông của phật giáo có ảnh hưởng  phảng phất  của  Phật giáo Chămpa tại Kinh đô Đồng Dương thế kỷ IX –X. Những viên ngói mũi lá tìm được ở Hoa Lư là sự kế thừa của loại hình ngói lợp Champa. Nhiều phong tục, lễ hội của người dân trong vùng cho đến nay vẫn còn những yếu tố văn hóa Chăm ẩn tàng trong các nghi thức.
 Vào thế kỷ XI ( năm 1010) khi nhà Lý chuyển đô về Thăng Longlà nơi thắng địa, thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.  Sự chuyển đô này đã đánh dấu một thời kỳ mới, tạo tiền đề cho một thời kỳ phát triển rực rỡ của văn hóa Đại Việt, khẳng định bản lĩnh dân tộc. Vương triều Lý tồn tại trên 200 năm ( 1009 – 1225) với nhiều thành tựu hội tụ, phát triển tinh hoa văn hóa của cả dân tộc  trong một thời kỳ lịch sử, trong những đóng góp đó có sự góp mặt của các nền văn hóa từ những  tộc người anh em, trong đó có dân tộc Chăm, một tộc người sinh sống quản lý trên dải đất phương nam
 I Những điều kiện lịch sử
Khi triều Lý lên ngôi, định đô ở Thăng Long mở đầu mối quan hệ  với tư cách của hai vương triều,  năm 1011 người Chăm đã tỏ lòng hữu hảo bằng cách dâng Sư Tử lên tiến cống, ngay sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi một năm  Mối bang giao thân hữu ấy được thể hiện theo thống kê ghi chép của Việt sử lược, riêng thời Lý, triều đình Champa cử hơn 43 đoàn sứ bộ sang Đại việt tiến cống sư tử, voi trắng, cá sấu cùng nhiều sản vật địa phương  như tơ lụa, vàng bạc vv... Năm 1198 là năm sứ bộ cuối cùng của Chiêm Thành sang cống nhà Lý và xin cầu phong. Mật độ sứ giả bang giao rất nhộn nhịp có giai đoạn 2 năm sai sứ sang Đại Việt một lần như các năm 1057 đến 1065; hoặc mỗi năm một lần như các năm từ 1081 đến 1089. 
Về quân sự theo sử liệu ghi chép vương triều Lý đã 6 lần tiến quân xuống phương nam. Hơn hai trăm năm cầm quyền với 6 lần tiến quân, bình quân trên 30 năm mới có một lần người Việt tiến xuống phía nam. Năm 1020 sai Khai Thiên Vương Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân đi đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính. Năm 1044 Lý Thái Tông  thân chinh cầm quân xuống phương nam, người Việt tiến vào vùng đất VịJaya ( Bình Định) quốc đô của Champa. Năm 1069 Lý Thánh Tông  cầm quân đi đánh Chămpa bắt vua nước ấy cùng dân chúng hơn 5 vạn người. Năm 1075 trước khi lập phòng tuyến sông Như Nguyệt chặn cuộc xâm lược của nhà Tống. Lý Thường Kiệt đã đem quân di đánh Chiêm Thành. Năm 1104 Lý Thường Kiệt lại cầm quân đi đánh Chiêm Thành.Năm 1167. Tô Hiến Thành cầm quân đi đánh Chiêm Thành
 Ngược lại theo sử liệu ghi chép kể từ khi vương triều Lý cầm quyền người Chăm có đến  8 cuộc người Chiêm Thành đem quân ra cướp phá biên giới. Năm 1043 tháng 4 giặc sóng gió Chiêm Thành cướp bóc dân ven biển; năm 1068 Chiêm Thành quấy nhiễu biên giới. Năm 1074 Chiêm Thành lại quấy rối biên giới; năm 1104 Vua Chiêm thành là Chế Ma Na đem quân vào cướp, năm 1132 Chiêm thành vào cướp châu Nghệ An; năm 1166 sứ Chiêm thành đi đến miền Ô Lý dùng quân phong thủy mà vượt biển cướp bóc nhân dân ven biển nước ta. Năm 1177 Chiêm thành đến cướp châu Nghệ An. Năm 1218 Chiêm thành đến cướp châu Nghệ An. Các cuộc xung đột biên giới này thường dân đến hệ quả là các cuộc tiến quân  của Đại Việt xuống Champa.
Hệ quả của các cuộc tiến quân là năm 1069 Lý Thánh Tông bắt được vua Chế Củ “ Chế Củ xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội. Vua bằng lòng tha cho Chế Củ về nước”. Lần đầu tiên một phần đất phía nam được hòa nhập vào lãnh thổ Đại Việt. Đây là  sự sát nhập tự nguyện  trao đổi có điều kiện. Để củng cố quyền quản lý lãnh thổ năm 1075 cùng với việc sai Lý Thường Kiệt tổng lĩnh các quân đi đánh Chiêm Thành… Thường Kiệt bèn họa địa đồ hình thế núi sông của ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh rồi về. Đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh là châu Minh Linh, chiêu mộ dân chúng đến đấy ở”. Những hoạt động quân sự hay ngoại giao đã tạo điều kiện thuận lợi đa chiều cho văn hóa Champa dần từng bước hội nhập vào văn hóa Việt trong đó có không gian văn hóa Thăng Long.
Trong những mối quan hệ , đáng chú ý: Năm  1044 Lý Thái Tông  đánh kinh thành bắt sống hơn 5.000 người đưa về Đại Việt cho ở từ trấn Vinh khang ( Nghệ An) đến Đăng châu( Yên Bái – Lào Cai) sinh sống cho các tù binh được nhận người cùng bộ tộc, đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành. Đặc biệt hơn một bộ phận người Chăm được nhà Lý  tạo điều kiện cho định cư tại chính trung tâm Thăng Long. Lý Thái Tông khi vào Phật Thệ ( ViJaya) bắt vợ cả vợ lẽ… và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên đưa về Thăng Long.  Năm 1045 sau cuộc chinh phạt phương nam, vua Lý chế xe Thái Bình lấy vàng trang sức “ Bồng La nga” tức cái bành voi của Chiêm Thành để kéo...năm 1046 “ dựng cung riêng cho các cung nữ Chiêm Thành”
 Năm 1060 lại “ Tháng 8 phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành sai nhạc công ca hát”. Năm 1203  “ Sai nhạc công chế khúc nhạc gọi là nhạc Chiêm Thành, tiếng trong trẻo ai oán buồn rầu, người nghe phải chảy nước mắt”.Đặc biệt hơn về tinh thần năm 1069 Lý Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, trong số những tù binh bắt được đưa về Thăng Long có một nhà sư Trung Quốc. Là người hâm mộ đạo phật, tiếp thu những giáo lý Phật giáo; Lý Thánh Tông  đã đưa vị sư này về chùa Khai Quốc, phong làm Quốc sư  khai sinh ra phái Thảo đường, một thiền phái của phật giáo vương triều và tự mình  trở thành thế hệ đầu của thiền phái này.. Thiền phái Thảo đường duy trì được 5 thế hệ trong đó có 3 vị vua tham gia ( Lý Anh Tông thế hệ thứ ba;  Lý Cao Tông thế hệ thứ năm) cùng nhiều vị quan lại đại thần trong triều như Tham chính Ngô Ích ( thế hệ thứ hai); Thái phó Đỗ  Anh Vũ(thế hệ thứ  ba); thái phó Đỗ Thường ( thế hệ thứ tư) và Quản giáp Nguyễn Thức ( thế hệ thứ năm). Từ nền tảng ban đầu mà nhà Lý tạo bước đột phá, các triều đại  Trần – Lê tiếp nối, các cuộc hội nhập văn hóa Việt – Chăm diễn ra thường xuyên trong lịch sử để đến cuối thế kỷ XV ( năm 1472) cơ bản phần đất người Chăm quản lý đã hội nhập vào lãnh thổ chung và văn hóa Champa trở thành một bộ phận của văn hóa dân tộc Việt Nam trong lịch sử.
Hệ quả của việc giao lưu tộc người và văn hóa  là văn hóa Việt tiếp nhận và chọn lọc  đưa những giá trị văn hóa tinh thần từ văn hóa Chăm vào tham gia thành tố văn hóa Việt, mà trong đó Thăng Long là nơi hội tụ kết tinh.
II Những bằng chứng lịch sử.
          Trước đây khi nghiên cứu về  văn hóa Thăng Long thời Lý – Trần, những nhà nghiên cứu đã chú ý về những dòng ghi chép trong lịch sử về sự có mặt của những nhóm người Chăm sinh sống, cùng những phong tục mang ảnh hưởng của văn hóa Chăm với nhóm cộng đồng người vùng đất xung quanh Thăng Long. Tuy nhiên, những công trình hay bài viết về những dấu ấn văn hóa Chăm ở Thăng Long - Hà Nội chưa được chú ý nhiều. Chúng ta chỉ bắt gặp những phát hiện, những nghiên cứu  đơn lẻ về dấu ấn của văn hóa Chăm nằm chìm trong nền văn hóa Việt. Những phát hiện này được tìm thấy qua các cuộc điều tra điền dã khảo cổ học như: Nguyễn Vinh Phúc: tìm ra thôn Bà Già ( 1986); Những pho tượng phỗng Chàm trong các di tích ở Hà Nội của Nguyễn Xuân Diện; Làng Phú Gia từ truyền thống tới hiện tại của Công Phương Khương(1999); Hai bức tượng Chăm ở chùa Bạch Sam (Hà Nội) của Nguyễn Tiến Đông và Nguyễn Hữu Thiết ( 2004) hay về Tượng uyên ương thời Lý ở chùa Bà Tấm, Phật tích, Dạm…của Trần Anh Dũng, Trần Thị Trúc Đào ( 2007). Và xa hơn nữa là công trình nghiên cứu về : Thần người đất Việt của Tạ Chí Đại Trường cũng đề cập một vài  dấu ấn văn hóa Chăm trên vùng đất Thăng Long.Nhìn chung những nghiên cứu về  văn hóa Việt - Chăm có số lượng không nhiều, chỉ dừng lại ở những nghiên cứu trường hợp nhỏ lẻ, thiếu hệ thống.
Đáng chú ý về khảo sát là tìm ra thôn Bà Già, một làng người Chăm được tụ cư sinh sống từ thời Lý, nay chính là thôn Phú Gia ( Từ Liêm- Hà Nội). Dựa vào cuốn sách cổ “ Bản xã thần ký”  truy tìm trong lịch sử đã cho thấy nhóm người Chăm được Lý Thánh Tôn sau khi chinh phạt Champa ( 1044) đã đưa nhóm người này đến vùng ven Thăng Long cư trú lập ra thôn Đa da li ( sau được phiên âm là Bà Già). Làng Chăm này đến thời Trần khá thịnh đạt, tướng Trần Nhật Duật thường đến đây ngao du. Tài liệu này phù hợp với lịch sử ghi chép 
Theo suốt dặm dài lịch sử, dấu ấn văn hóa Champa để lại cùng ảnh hưởng từ nền văn hóa này đã lan tỏa và để lại dấu ấn trong lòng văn hóa Đại Việt, văn hóa Thăng Long vô cùng đa dạng dưới nhiều loại hình và hình thức khác nhau, vật thể và phi vật thể.
Tại kinh thành Thăng Long, cuộc khai quật khảo cổ học tại di tích Hoàng thành xưa ( 18 Hoàng Diệu) trong những hiện vật tìm được có một viên gạch viết chữ

Chăm cổ ( tự dạng Skanrit). Bên cạnh đó là hàng loạt các hiện vật đồ gốm có men mang đặc trưng của  gốm Champa tại Bình Định ( ViJaya).Các di tích khác như tháp Báo Thiên xây thời Lý có dấu ấn của văn hóa Chăm qua các điêu khắc; chùa Bà Đanh “ Xây dựng từ đời Hồng Đức nhà Lê để cho dòng dõi Lâm ấp ở (Tống gọi là Chiêm Thành, tục ta gọi là Xiêm?). Đời hậu Lê đã phá bỏ „ cho đến
 Gạch chữ Chăm tại Thăng Long
nay chỉ còn lại trong sử liệu ghi chép
Những vùng ngoại vi Thăng Long, đền Bà Tấm ( Gia Lâm – Hà Nội) cho đến nay vẫn còn hai hai đầu tượng Sư Tử mang dấu ấn từ văn hóa Chăm
Tượng Sư Tử Champa
Đầu Sư tử đền Bà Tấm
Một số chùa ở Hà Nội bên những tín ngưỡng Phật giáo của người Việt, trong chùa xuất hiện những tượng thờ mang  yếu tố Champa. Chùa Chài ( Đông Anh – Hà Nội), tượng Phật bà thể hiện như tượng thần Mẹ xứ sở trong văn hóa Champa trong đó có những nét tương đồng về phong cách, hình thái thể hiện, hay tượng thần Shiva là vị thần Ân Độ giáo cũng được gia nhập vào phật điện chùa Việt
T­ượng Mẹ PoNaga ( Champa)
T­ượng Phật chùa Chài ( Đông Anh – Hà Nộ)

T­îng Shiva – BT Đà nẵng
T­îng Shiva chúa Chài
 Tại các công trình kiến trúc Phật giáo không xa Thăng Long như chùa Phật Tích ( Bắc Ninh), ngoài yếu tố xây dựng tháp trên núi cao theo truyền thống địa điểm xây dựng tháp Champa theo phong cách Bình Định ( thế kỷ XI – XIII)Thì các điêu khắc trang trí tháp mang nhiều đề tài theo nghệ thuật điêu khắc Champa như Kirana, tượng đất nung Uyên ương
Đầu tượng Sư Tử và tượng Kirana ( chùa Phật Tích- Bắc Ninh)Đầu tượng Sư Tử và tượng Kirana ( chựa Phật Tích- Bắc Ninh)
Các chùa  tháp như Tường Long ( Hải Phòng); Chương Sơn, Đọi Sơn (  Hà Nam)
dấu ấn văn hóa Champa để lại khá phong phú trên các tác phẩm điêu khắc trang trí tháp. Nhưng tài liệu vật chất hiện thấy cho biết văn hóa Champa theo năm tháng có ảnh hưởng khá rộng đến cư dân văn hóa Việt, nhất là nơi có cộng đồng người Chăm cư trú đang dần hội nhập vào văn hóa Việt, trong đó trung tâm là Thăng Long.
Bên cạnh những di tích vật thể,  dấu ấn văn hóa phi vật thể vẫn hiện hữu trong đời sống tinh thần của những nhóm cộng đồng cư dân.. 

Những cuộc thăm đất nước Champa “ không chính thức” bằng vũ lực đã đưa hàng ngàn người dân Chăm về sinh sống trên Đại Việt từ Nghệ An cho đến Yên Bái – Lao cai. Những người dân Chăm đến sinh sống có nhiều tầng lớp, người theo tôn giáo, cung nhân, thợ thủ công. Đến sống trên vùng đất mới được quy tụ theo bộ tộc hương ấp, văn hóa Champa lại có điều kiện tồn tại trong lòng nền văn hóa Việt. Tại Hà Nội cho đến nay còn nhiều làng gốc người Chăm cũ như thôn Bà Già ( Từ Liêm – Hà Nội). Các vùng ven Thăng Long như Yên Sở, Hoài Đức, Chương Mỹ  cho đến nay còn nhiều dấu ấn văn hóa Chăm như kỹ thuật khai thác đá ong, kỹ thuật xây giếng nước cùng nhiều phong tục, tập quán của ngươì Chăm để lại. Có ý kiến cho rằng, cây dừa là biểu tượng của người Chăm ( thị tộc Dừa), cho nên khi đến cư trú nơi sống mới họ thường mang theo cây dừa để nhớ về quê cũ. Hoài Đức xứ xở  của Dừa ven Thăng Long; Thanh Hóa quê hương của Dừa  xứ bắc được coi là một tiêu chí văn hóa Chăm lan tỏa trong không gian văn hóa Việt. Các trí thức, nghệ nhân, nghệ sĩ, tôn giáo, người Chăm đã mang đôi tay tài hoa và khối óc thấm đậm văn hóa Chămpa ngàn năm dần hội nhập vào văn hóa Việt. Nếp sống của người Chăm hòa lẫn vào văn hóa Việt theo thời gian.Văn hóa Champa không chỉ hòa trộn trong không gian văn hóa Thăng Long; với  số lượng người đông được phân bố rộng khắp  trên lãnh thổ Đại Việt chắc chắn sẽ diễn ra quá trình tiếp biến văn hóa Việt - Chăm mạnh mẽ, kéo dài qua nhiều thế kỷ Lý – Trần – Lê tạo nên sắc màu cuộc sống phong phú, đa dạng trong lòng văn hóa Việt truyền thống.  Văn hóa Chăm trong không gian văn hóa Thăng Long  là một trong những tâm điểm của quá trình hội nhập lâu dài đó./. 

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

EFEO VỚI SỰ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ  DI SẢN VĂN HOÁ CHAMPA
                                                                   
                Văn hoá Champa là nền văn hoá lớn, độc đáo được xây dựng theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc Chăm. Hơn một thiên niên kỷ dựng xây và phát triển, người Chăm đã để lại một di sản văn hoá vô cùng phong phú, độc đáo trên nhiều loại hình kiến trúc, điêu khắc, đồ gốm vv... và trở thành một bộ phận đặc sắc trong tổng thể văn hoá Việt Nam theo chiều dài lịch sử.
Cuối thế kỷ XIX khi tiếp xúc với các di sản văn hoá Việt Nam trong đó có văn hoá Champa, cùng với sự tiếp cận hệ thống tháp tại Bình Định, việc phát hiện ra các khu di tích Mỹ Sơn, Đồng Dương( Quảng Nam) đã trở thành một trong những động lực để hình thành nên tổ chức chuyên nghiên cứu về các nền văn hoá bản địa ở Việt Nam nói riêng và bán đảo Đông Dương nói chung. Đó là Viện Viễn Đông Bác Cổ( EFEO).
Kể từ khi được thành lập(1900) việc nghiên cứu di sản văn hoá Champa được tiến hành bài bản, có hệ thống trên toàn bộ lãnh thổ người Chăm trong lịch sử. Trước hết là việc điều tra khảo sát toàn bộ dấu tích, đánh giá hiện trạng các di tích, di vật hiện còn. Đây là cơ sở để hình thành nên công trình của H.Parmentier: Inventaire Descriptie des Monuments Cams de L’An Nam.Paris 1918( Thông kê khảo tả các di tích Camở An Nam), một công trình có ý nghĩa đặt nền tảng cho việc nghiên cứu, bảo tồn văn hoá Champa sau này.
Cùng với điều tra khảo sát, các cuộc khai quật tại các di tích Mỹ Sơn ( 1901-1902); PoNaga, Chánh Lộ,Đồng Dương( 1904); Trà Kiệu( 1927- 1928) Đại Hữu, Trung quán( 1927 -1928) vv.. đã góp phần phục vụ cho công tác trùng tu, tôn tạo các kiến trúc ở Mỹ Sơn, PoNaga, hay sưu tập các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc Champa đưa về bảo quản góp phần bảo tồn các di sản văn hoá quý giá này.
 Đặc biệt với sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu Viện Viễn Đông Bác cổ, sau nhiều năm kiên trì, năm 1916 Bảo tàng điêu khắc Champa tại Đà Nẵng được thành lập với 268 hiện vật ban đầu được đưa vào bảo quản, trưng bày giới thiệu đánh dấu một bước chuyển mới trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá. Từ cơ sở ban đầu, Bảo tàng ngày càng được quan tâm và bổ xung, đặc biệt sau năm 1934 cuộc khai quật Tháp Mẫm( Bình Định) đã bổ xung thêm nhiều hiện vật có giá trị cho Bảo tàng.
Dựa vào những  thành tựu nghiên cứu cơ bản ban đầu, là tiền đề cho nhiều tác phẩm về văn hoá Champa được xuắt bản như:  Ph. Stern:L’art du Champa et son Evolution. Toulose 1942( Nghệ thuật Champa và quá trình phát triển); J. Boisselier: La Statuaire du Champa Recherches sur  les Cuites et L’Iconographie. Paris 1963(Tiếu tượng học Champa ). Đặc biệt dựa vào di sản văn hoá trên các lĩnh vực là cơ sở cho việc hình thành dựng lại gương mặt lịch sử của người Chăm qua tác phẩm của G.Maxpero: Le Royaume de Cham. NXB Van Oest. Paris 1928.( Vương quốc Cham).
Do biến động của xã hội, sau năm 1975 việc nghiên cứu văn hoá Champa chủ yếu do các nhà nghiên cứu trong nước thực hiện. Kế thừa thành tựu mà các học giả Viễn Đông Bác cổ đạt được, nhiều cuộc sưu tầm, điều tra khảo sát khai quật khảo cổ học được tiến hành trên mọi vùng, đặc biệt trên vùng đất cố đô cũ như Quảng Nam; Bình Định. Song hành với Bảo tàng điêu khắc Champa Đà Nẵng, nhiều phòng trưng bày về điêu khắc Champa có mặt tại các địa phương như Thừa Thiên Huế- Quảng Nam- Quảng Ngãi, Bình Định góp phần Bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trong đời sống văn hoá ngày nay.
 Nhiều công trình nghiên cứu văn hoá Champa được xuất bản đã góp phần cho việc hiểu sâu toàn diện hơn  và khẳng định giá trị  vô giá của văn hoá Champa trong lịch sử dân tộc.

Có thể thấy, những kết quả nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ trong quá khứ là tầng nền vững chắc để tạo nên những thành tựu nghiên cứu  văn hoá Champa ngày nay. Những thành tựu của quá khứ, hiện tại và tương lai đều nhằm mục đích chung gìn giữ bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá Champa trong lịch sử./.