Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2015

CHUYỆN GẪU:  AI ?
Đôi khi gặp những dòng tin trên báo, hay chương trình thời sự VTV, đưa tin ngư dân Việt Nam bị cướp, phá  khi đánh cá trên vùng biển nước mình do Tàu lạ, người lạ....Gần đây lại có tin ngư dân đảo Lý Sơn bị bắn chết trên biển Trường Sa mà cũng chưa biết kẻ trực tiếp hay chủ mưu từ đâu. Đọc thấy buồn. Chợt nhớ lại  một số câu trong bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc xưa:
...Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Nó là tên đế quốc
 hay là thằng thực dân
hay là thằng thổ phỉ...
Khôn thiêng xin chỉ mặt
gọi tên nó ra anh...
Bài thơ đọc đã lâu, nay nhớ không thể chính xác lắm. Nhưng ít ra người sống hay người chết phải biết kẻ bắn mình và mình chết vì sao. Chẳng lẽ, nhưng ngư dân chết mà không hiểu vì sao, từ đâu như những cái chết lãng xẹt, vô nghĩa.

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

LỊCH SỬ?
1. Lịch sử
Theo Từ điển tiếng Việt dành cho học sinh phổ thông:
Lịch sử dt. Quá trình phát sinh, phát triển đã qua của một hiện tượng, một sự vật nào đó diễn ra theo thứ tự thời gian.(1)
Đây là cách diễn giải đơn giản nhất cho học sinh phổ thông hiểu từ Lịch sử theo danh từ. Suy rộng ra Lịch sử là những gì xảy ra đã qua. Lịch sử là quá khứ.
Quá khứ thân phận của một con người, một dòng tộc, một tộc người là lịch sử.
Ghi chép tiểu sử một con người, gia phả một dòng tộc,  về ngọn nguồn của một tộc người đó là lịch sử.
Nguồn gốc hình thành, quá trình tồn tại và phát triển của một vùng đất, lãnh thổ một dân tộc là lịch sử.
 Ghi chép về một vùng đất (lịch sử địa phương), một không gian sống lãnh thổ của dân tộc Quốc gia (Quốc sử). Lịch sử là "Đường thời gian mà ở đó tất cả các sự kiện đã diễn ra trên mọi khía cạnh của cuộc sống, từ chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật và công nghệ, văn học - nghệ thuật, tôn giáo - tín ngưỡng, chiến tranh" (2) Những ghi chép đó hình thành nên những sách lịch sử của một vùng đất hay Quốc gia
 Nếu cứ tạm hiểu như vậy  thì từ  " Đời xưa các nước, nước nào cũng có sử"(3)
Vậy người xưa viết sử để làm gì:
"Vì sao mà làm Quốc sử? Vì sử chủ yếu là để ghi chép sự việc. Có chính trị của một đời, tất phải có sử của một đời. Mà ngòi bút chép sử giữ nghị luận rất nghiêm, ca ngợi đời thịnh trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời mặt trăng, lên án kẻ loạn tặc thì gay gắt như sương thu lạnh buốt. Người thiện biết có thể bắt chước, người ác biết có thể tự răn, quan hệ đến việc chính trị không phải là không nhiều.."(4) hay " Sử để ghi việc, mà việc hay hoặc dở đều dùng làm gương răn cho đời sau" (5)
Nước ta, do điều kiện bi thương, sau thời kỳ văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ, một nhà nước sơ khai  mới manh nha hình thành đã bị vùi lấp trước lớp sóng đồng hóa của Trung Hoa. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của dân tộc, lãnh thổ nước ta trở thành một quận huyên. Lịch sử  bị ghi chép như một bộ phận của lịch sử Trung Hoa.Máu và nước mắt của dân tộc Việt Nam đổ ra đòi độc lập (cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Triệu Thị Trinh, Lý Bôn...) bị nhạt nhòa không dòng ghi chép, hay ghi chép xuyên tạc của kẻ thù.
Chính vì thế sau khi giành độc lập dân tộc ta đã chú trọng ghi chép lịch sử dân tộc. Với khuyết thiếu của lịch sử dân tộc ngàn năm đầu" Nhưng vì thiếu sử sách biên chép, mà thực sự đều nghe truyền miệng, lời ghi có phần quái đản, sự việc có khi quên sót..."(6). Với những danh nho lừng danh " Văn Hưu là đại thủ bút thời Trần, Phu Tiên là bậc cố lão của thành triều ta, đều vâng chiếu biên soạn lịch sử của nước ta.." nên những bộ Quốc sử được hình thành như Việt sử lược, Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư... với những sử gia danh tiếng như: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Hồ Tông Thốc, Ngô Sĩ Liên... và trở thành truyền thống viết lịch sử dân tộc.
Nhờ có những bộ Lịch sử dân tộc ghi chép mà ngày nay chúng ta biết bài thơ thần của Lý Thường Kiệt với câu thơ:
Sông núi nước Nam , Nam đế ở
Rõ ràng phân định tại sách trời...
Hào khí dân tộc ấy, được hậu thế tôn vinh là Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.(7)
Hay  đọc Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn mà đau xót cho dân tộc " Huống chi ta cùng các ngươi, sinh ra phải thời rối ren, lớn lên gặp buổi khó nhọc, ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, ỷ cái thân dê chó mà bắt nạt tể phụ... Nay các ngươi ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thân chịu quốc sỉ mà không biết nhục, làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường thiết yến sứ ngụy mà không biết căm...."
Dù thăng trầm của lịch sử,  nhưng lòng tự hào dân tộc là ngọn lửa thắp sáng dẫn đường, kiêu hãnh:
" Xét như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến
Bờ cõi sông núi đã riêng
Phong tục bắc nam cũng khác
Trải Triệu , Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
 Cùng Hán, Đường, Tồng, Nguyên đều làm chủ một phương..."
Cũng từ Bản Đại cáo bình Ngô mà gương mặt tàn ác của quân xâm lược bị vạch trần:
"Tát cạn nước Đông Hải không đủ rửa tanh nhơ
Chặt hết trúc Nam Sơn không đủ ghi tội ác"
 Trải bao nếm mật nằm gai, bao máu xương đổ xuống:
"Để mở nền thái bình muôn thưở
 Để rửa mối sỉ nhục ngàn xưa"
 Nền độc lập phải trả bằng xương máu ấy, cho đến nay vẫn là niềm tự hào của mỗi người con dân Việt. Hậu thế  coi Đại cáo bình Ngô là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai.
Tư thế dân tộc một lần nữa được khẳng định khi đại phá quân Thanh xâm lược, người anh hùng áo vải Quang Trung  đã nói:
 Đánh cho để dài tóc
 Đanh cho để răng đen
 Đánh cho biết nước Nam anh hùng chi hữu chủ...
 Những ghi chép trong sử sách đó là linh hồn, biểu tượng cho dân tộc Việt, con người Việt, như mạch nguồn chảy mãi trong dòng máu mỗi người dân bấp chấp sự thăng trầm của lịch sử
Đầu thế kỷ XX đầy tao loạn, cuồng phong của chính trị, truyền thống lịch sử dân tộc lại là cứu cánh. Nhà sử học Trần Trọng Kim  tâm huyết viết cuốn Việt Nam lược sử. Ông viết để làm gì:
" Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích để làm cái gương chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự linh hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực như thế nào, mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này. Người trong nước có thông hiểu sự tích nước mình mới có lòng yêu nước yêu nhà, mới biết cố gắng học hành, hết sức làm lụng, để vun đắp thêm vào cái nền xã hội của tổ tiên đã dựng xây nên mà để lại cho mình..."
Như vậy sự cần biết lịch sử dân tộc như thế nào, khỏi phải bàn nữa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò: Dân ta phải biết sử ta
2. Chiều nay 16- 11 - 2015 nghe "ngài" Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo trả lời chất vấn trước Quốc hội nói đưa môn học Lịch sử vào gói tích hợp.... "Ngài"  ví von khi học sinh học bài Đại cáo Bình Ngô là đã đưa môn lịch sử vào vì phải đưa vấn đề lịch sử ra đời khi viết Bài Cáo đó... Hay khi hát bài câu hò trên bến Hiền Lương là phải nói về lịch sử ra đời của bài hát.... Nghe thật là ngược đời, "Ngài" đã lẫn lộn vấn đề như các nhà Triết học tranh luận: quả trứng có trước hay con gà có trước.
 Xin thưa, nếu không có gần thập niên nếm mật nằm gai " Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần. Lúc Khôi huyện quân không còn một lữ" thì có được Bài Bình Ngô Đại cáo không?
Nếu không có chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động điạ cầu, hiệp định Giơ Ne Vơ chia cắt núi sông thì có bài hát da diết Câu hò trên bến Hiền Lương?
" Ngài " bộ trưởng cố tình nhầm hay không hiểu, nếu không có lịch sử chi phối làm nền, thăng hoa thì đâu có những tác phẩm nổi danh để lại cho Hậu thế.  Tác phẩm là sản phẩm của lịch sử hay lịch sử là sản phẩm của tác phẩm thưa "Ngài".
Muốn hiểu được những giá trị của các tác phẩm, cần phải hiểu rõ hoàn cảnh ra đời đó chính là lịch sử. Kiến thức căn cốt không hiểu thì lại định hướng hiểu ngược lại. Chẳng khác gì người ta nhìn cuộc đời bằng tư thế lộn ngược?
3. Những bài học
Trải qua năm tháng, sự biến động của xã hội, ý thức hệ chủ quan của con người. Lịch sử nhiều dân tộc dần bị biến mất khỏi ký ức: Tây Hạ, Thổ Phồn, Đại Lý... Gần đây là Tây Tạng. Mất Lịch sử dân tộc là mất ký ức quá khứ, sẽ sản sinh ra những chủ nhân sống vật vờ trên chính mảnh đất tổ tiên ông bà, mẹ cha để lại.



(1)Từ điển tiếng việt dành cho học sinh phổ thông. Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 2014, tr 356
(2) Mai Thanh Sơn
(3) Bài tựa sách Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư - Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 1998, tr 99 
(4) Sách Đại Việt Sử ký tục biên- Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 1998, tr 96
(5) Bài tựa sách Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư - Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 1998, tr 99 
(6) Bài tựa sách Đại Việt sử ký ngoại kỷ toàn thư - Đại Việt sử ký toàn thư. Nhà xuất bản Khoa học xã hội- Hà Nội 1998, tr 99
(7) Về nguồn gốc bài thơ có ý kiến của các nhà nghiên cứu còn cho rằng, bài thơ thần xuất hiện sớm hơn vào cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược thời vua Lê Đại Hành

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2015

VĨNH BIỆT GIÁO SƯ CAO XUÂN PHỔ


Hôm nay, cùng với người anh Ngô Văn Doanh và những người bạn đồng nghiệp, ngậm ngùi tiễn đưa GS Cao Xuân Phổ về nơi an nghỉ cuối cùng, phiêu diêu miền cực lạc, nơi mà Giáo sư từng mơ ước. Thế giới của những người hiền, cõi Niết Bàn, miền đất Phật xa xăm, ảo ảnh.

 Nhị vị GS Cao Xuân Phổ và Nguyễn Văn Đang tại tháp Bình Thạnh (Tây Ninh)
Trời nắng thu Hà Nội đẹp nao lòng, thế mà sao thấy lòng hụt hẫng. Nếu mỗi người là một vì sao  thì hôm nay  có một vệt sao băng tỏa sáng trên bầu trời, rồi lặng lẽ đi về cõi hư vô xa thẳm
 Quảng Bác, uyên thâm trong học thuật. Quảng đại - Lịch lãm - Hào hoa- Lịch duyệt trong giao tiếp. Bình dị, chân thành, vị tha trong cuộc sống. Đó là những gì cảm nhận được từ vị Giáo sư đáng kính  tỏa ra với mọi người  trong đó có tôi.
 Hơn 30 năm, cùng những chuyến công tác được hầu chuyện Giáo sư, nghe tâm sự cuộc đời, lời chỉ bảo. Giáo sư là người thầy hướng dắt tôi đi trên con đường khoa học. Quan trọng hơn là Thầy đã bồi đắp cho tôi  nhân cách CON NGƯỜI, nhân cách một người làm khoa học.
Vĩnh biệt Giáo Sư - người thấy đáng kính.
GS Cao Xuân Phổ cùng nhóm công tác









Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Chuyện Gẫu:
 TAY TRÁI - TAY PHẢI
Một vị GS. TS về quê ăn cỗ. Ông là người thành danh, được thiên hạ nể phục, là niềm tự hào của dân làng. Sự có mặt của ông là niềm vinh hạnh của gia chủ. Mâm cỗ được sắp đặt nơi trang trọng, ngồi cùng ông là những người danh vọng trong làng. Vào bữa tiệc các ông cầm đũa, khổ nỗi khi cầm đũa,  phát hiện ra mâm  có 6 người thì 5 người cầm đũa một chiều, riêng ông cầm đũa một chiều. Mấy ông hỏi: Bác cầm đũa tay trái à.
- Không mấy bác mới cầm đũa tay trái, còn tôi cầm đũa tay phải.
- Bác nói thế nào chứ, chúng tôi cầm đũa tay phải . Năm người chúng tôi chẳng lẽ lại tay trái hết à.
Ông nhìn quanh, thấy các mâm ăn ào ào, không biết là sử dụng đũa tay trái hay tay phải.
- Chẳng phải biểu quyết, mâm 6 người, 5 người cầm đũa một chiều thì chắc chắn đó là phải rồi. Thiểu số phải phục tùng đa số. Một ông nói: chúng tôi là tay phải. Ông ngồi im không biết nói thế nào.
Bữa ăn diễn ra khá lâu và vui vẻ. Họ khen ông: Bác sử dụng tay trái thành thạo chẳng kém chúng tôi dùng tay phải. Bác làm việc thế có viết được hai tay không. Nhiều người ăn tay trái lại viết được  bằng tay phải đấy. Chúng tôi đây cầm đũa tay phải lại viết( ký) được cả bằng tay trái.
 Vị GS. TS ngồi ăn mà tự hoang mang, không biết mình cầm đũa  tay nào là phải.
Sau bữa ăn, may quá ông gặp một cháu bé người làng. Ông giơ hai tay trước mặt hỏi: Cháu cho tôi biết tay nào là  trái, tay nào là phải?
Bình luận:
Dù phải hay trái cũng cứ ăn ào ào
Dù đúng hay sai cứ số đông là đúng.
Chỉ những người Biết là ngơ ngác trong cuộc đời.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

CHUYỆN GẪU 
 HAI CÁI ĐẦU ĐÀN ÔNG
Đàn ông thông minh bởi họ có hai cái đầu. 
Thế mà khi chết, khi cải táng đàn ông hay đàn bà chỉ có một cái đầu (hộp sọ). Cải táng là một phong tục trong tập quán nghi lễ táng tục của người Việt ở phía Bắc đêò Ngang từ Hà Tĩnh trở ra. Còn Nam đèo ngang từ Quảng Bình trở vào hình như phong tục này không phổ biến. Con người khi chết sau tang lễ đem an táng lần đầu gọi là Hung táng. Giai đoạn này cần mồ yên, có nghĩa là ngôi mộ cần được yên tĩnh, tránh sự xáo trộn đào đắp xung quanh. Sau khi chết 3 năm, ngày nay có thể  5 - 7 năm, người nhà đào lên nhặt xương,  xếp vào tiểu sành táng lại lần thứ hai gọi là cải táng. Sau cải táng có thể xây cất Mả vững bền. Tùy theo gia cảnh mà xây đắp quy mô lớn nhỏ, tô vẽ trang trí đẹp đẽ hay đơn giản. Nhưng thường gia chủ làm to đẹp nhất theo khả năng của mình  nên gọi là Mả đẹp (dân gian có câu Mồ Yên Mả đẹp là vậy). Khi cải táng gia chủ thường làm cỗ đãi họ hàng bà con, láng giềng, bạn hữu linh đình. Chính vì thế có thời kỳ văn hóa mới, người ta phản đối phong tục này nên chê bai lễ cải táng là "Bốc xương - ăn thịt". Chuyện dài dòng, để nói con người khi chết được vào Mả mới yên. Nhưng thời nay có chuyện chết cải táng rồi chưa yên. Ở một nơi nọ, khi làm lễ cải táng một vị có danh tiếng trong xã hội và trong vùng. Khi cải táng, con cái thuê người bốc mộ. Khi nhặt hết xương xếp vào Tiểu, người bốc mộ thấy một mảnh xương khá lạ, ông cứ cầm tay xoay ngang xoay dọc rồi ngắm. Con cháu sốt ruột vặn hỏi: còn cái xương gì vậy. Ông đưa lên đặt xuống ngắm mãi  miếng "xương lạ" mà không trả lời được. Con cháu lại càng hỏi rối rít: xương gì. Ông cáu gắt lên: "xương con đầu buồi".
Có lẽ đây là lần đầu tiên con người danh tiếng ấy có xương của hai đầu,  mà người đàn ông có. Chẳng lẽ câu lan truyền " Đầu ánh Bạc, túi ánh Kim, chim ánh Thép" ngày nay là có thật. Cái đầu dưới của ông là thép nên có miếng xương lạ mà người bốc mộ chưa bao giờ thấy được.
 Chuyện này trước định hỏi Giáo sư Nguyễn Huy Phan, người được coi là ông thày về tạo hình thẩm mỹ ở Việt Nam, người cùng quê . Trước ông kể rằng để khắc phục đầu dưới nhỏ không xứng với đầu trên, khi tạo hình ông lấy phần da thịt đùi quấn tạo thành đầu dưới tương xứng. Nhưng không biết ông khi tạo hình có người nào xin ông quấn thép và ông có quấn thép cho ai không? Chưa kịp
 hỏi thì ông đã mất. Tiếc thay.

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

CHUYỆN GẪU
QUAN THÁI GIÁM 2
 Ở Việt Nam có quan Thái giám không?
Theo sử sách khi giành được độc lập, chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam có ghi về  chức quan giúp việc vua, đó là Chi hậu Nội nhân (Đỗ Thích) lợi dụng thân cận tìm cách giết vua. Đây có phải Thái giám không thì chịu. Nhưng chắc chắn vào thời Lý có người làm quan cực phẩm là "Thái Giám" đó là Lý Thường Kiệt ( Ngô Tuấn). Chính là Thái Giám cho nên khi tham gia triều chính, mặc dù gần gũi Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan mà chính sử ghi chép không nghi ngờ gì về sự "đoan chính" của bà. Khá hẳn với Thái Hậu Dương Vân Nga, người cũng tột đỉnh quyền lực như Bà dưới triều Đinh, nhưng vị quan phò chính không phải là Thái Giám nên có chuyện bàn mãi về sau. Quan Thái Giám đặc biệt lộng hành vào đầu thời Lê,  Nguyễn Trãi tài hoa, công thần dựng nước nhưng lúc chết cũng phải than rằng vì không nghe theo lời của Hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng.
Thời Lê - Trịnh ( TK 17 -18) Hoạn quan đóng vai trò quan trọng trong triều chính Việt Nam. Nhiều Hoạn quan đã trở thành Danh tướng lừng danh, từng đánh đông dẹp bắc, bảo vệ ngôi vua phủ chúa. Như vậy có thể thấy Hoạn quan thông minh khi chỉ còn sử dụng "một cái đầu" đã góp khá nhiều công lao trong việc gì giữ chế độ quân chủ. Những điều tiếc là sau khi thành Hoạn quan cái " đầu dưới" trở nên vô vị. Hết loạn lạc đến thanh bình. Cái "đầu trên" rỗi việc không bảo được cái "đầu dưới" mà vốn dĩ "đầu trên" quá thông minh nên nó mới có nhiều chuyện.Đầu trên thông minh làm được nhiều việc đại sự thì Đầu dưới ẻo uột mềm như dưa héo không làm nổi chuyện bình thường. Thế là các quan mới nghĩ ra đủ trò. Chuyện bình thường ai cũng làm được thì các quan Hoạn chịu. Chuyện Trạng Quỳnh kể lại Khi chúa tôi vui vầy chúa hỏi thị thần:  Làm xương cho sáo - Làm sao cho sướng. Thị thần đáp: tôi may ngón tóc- Tôi móc ngón tay. Hay Thật?
Đã là Hoạn quan thì không có người nối dõi, lấy ai thờ cúng, trong khi đó quan lại bổng lộc nhiều. Các Hoạn quan dù thành danh nơi biên ải, mãnh tướng một thời, hay chỉ hầu hạ trong cung vua phủ chúa đều lắm tiền nhiều của, nên ngơ ngác nhìn nhau. Thế là họ đưa tiền về quê xây lăng mộ của mình. Mộ to, mộ đẹp, hương án, bình phong, tượng người hầu quỳ đứng, ngựa cưỡi, voi nằm, lính canh cửa đều có cả thành những khu Lăng đẹp nổi tiếng trong vùng cho mọi người để nhớ. Và quả có thế thật, từ đó đến nay trải qua năm tháng, ở  miền Bắc hiện nay theo thống kê có đến gần 100 khu lăng mộ thế này. Nhiều nhất tập trung trên địa bàn Bắc Ninh - Bắc Giang  có hơn 40 khu lăng với những lăng Dinh Hương, Họ Ngô vv... nổi tiếng. Lăng mộ còn có khắp nơi Gia Bình (Bắc Ninh), Hà Tây (cũ), Thanh Hóa vv... làm nên hệ thống lăn mộ Việt Nam. Những lăng mộ này để lại nhiều tác phẩm điêu khắc đá nổi tiếng, điển hình cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam một thời kỳ Lịch sử. Quả là lắm tiền nhiều của bỏ ra không uổng. Ngày nay, truyền thống này được nhiều gia đình các vị quan lại có chức, có tiền noi theo tiền nhân. Đó cũng là việc tốt, nhưng trên lăng mộ nên ghi rõ "đầu dưới"  "đầu trên" đều có đủ, "đầu dưới" lại thông minh hơn nên có  con đàn, cháu đống kẻo hậu thế mai sau xếp  Mả các ngài như lăng Quan Hoạn ngày xưa./.
Tượng Lăng Dinh Hương (Bắc Giang)



Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

CHUYỆN GẪU:
QUAN THÁI GIÁM
Chuyện xưa kể rằng:  Sau một thời gian triều đình được thành lập. Bên cạnh vua còn những vị quan tài giỏi giúp vua trị nước. Bằng tài năng  xuất chúng cùng sự  tận tâm giúp rập hết mình của các quan cận thần, sau một thời gian ổn định, đất nước phát triển ngày càng giàu có, cuộc sống xa hoa. Vua vốn có nhiều vợ, hàng năm lại kén gái đẹp, tuyển thêm cung phi cho thỏa mãn thú vui. Vua cùng các quan cận thần lại thân ái gần gũi, ăn ngủ không phân biệt vua tôi. Quan cận thần vào ra cung cấm tự do thấy dàn cung phi xinh đẹp của vua nảy sinh thèm muốn. Hàng ngày tiếp xúc qua lại, có viên quan thân cận lợi dụng ra vào cung cấm gần gũi cung phi rồi " tình thương, mến thương" với người cung phi được vua sủng ái. Việc bại lộ đến tai, nhà vua tức giận gọi viên cận thần lại quát:
- Nhà ngươi có mấy cái đầu mà dám làm bậy bạ xúc phạm đến ta.Ta chém đầu người đừng oán trách
- Thưa bệ hạ, lỗi tại thần do không điều khiển được máu nuôi hai cái đầu của mình nên dẫn đến sự thể như vậy. Bệ hạ chém đầu nào để thần lo liệu.
-  Sao ngươi lại có hai cái đầu là thế nào. Vua gặng hỏi.
Dạ. Viên cận thần trả lời. Đầu phía trên khi máu lên đầy đủ thì thần sáng suốt vạch mưu bày kế cho Bệ hạ an dân trị quốc. Còn khi máu nuôi đầu phía dưới thì  nó đứng lên cứng đầu cứng cổ làm thần u mê chỉ phục vụ cung phi cho thỏa mãn nên dẫn đến sai lầm. Xin bệ hạ minh xét
Vua vốn người anh minh, thông tuệ,  xét đến  tài năng cùng công lao giúp rập đóng góp của viên cận thần nên phán sử: Hai cái đầu của ngươi cái nào có công thì thưởng, đầu nào có tội thì phạt. Nguyên nhân là do máu nuôi làm cái đầu dưới của ngươi phạm tội. Vậy cắt cái phần máu nuôi đầu dưới làm ngươi u mê, giữ đầu trên cho máu nuôi thêm sáng suốt.
Vua gọi ngự y lôi viên quan đi thiến, cắt cái nguồn máu nuôi đầu dưới để không  còn cứng đầu cứng cổ được nữa. Một thời gian sau, máu tập trung nuôi cái đầu trên nên viên quan ngày càng sáng xuốt. Đầu dưới thì từ đó hết cứng đầu cứng cổ,  cứ ngoặt nghẹo ẻo lả như xác không hồn nên được ra vào cung cấm thoải mái mà  nhà vua yên tâm với đám phi tần của mình, nên y ngày càng được nhà vua tin dùng. Sau này hình thành nên lớp người này được gọi là những viên Hoạn quan. Chính vì thế Hoạn quan  thường là những người thông minh sáng xuốt, có nhiều chi phối trong chính sách triều đình, dẫn đến có những thời kỳ của nhiều triều đại, Hoạn quan lũng đoạn . Lợi dụng sự tin cẩn của nhà vua, nhiều kẻ thiếu thông minh, thừa gian manh tự Thiến làm Hoạn quan chui vào triều đình phá nát  cơ nghiệp cả một vương triều.  Gọi Hoạn quan nghe thế nào ấy nên sau này được triều đình gọi là  quan Thái giám và tự thiến gọi chữ nghĩa là "Tịnh thân" cho sang trọng./.