Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

VÀI NÉT VỀ TIỀN THỜI HỒ( 1400 - 1407)
TIỀN GIẤY - CUỘC CẢI CÁCH VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU
Năm 1400, sau nhiều biến động chính trường, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Mặc dù thời gian tồn tại ngắn ngủi (1400 -1407) nhưng nhà Hồ đã tiến hành nhiều cuộc cải cách kinh tế, trong đó có cải cách tiền tệ, đánh một dấu ấn quan trọng trong lịch sử tiền tệ Việt Nam.
Nhà Hồ lên ngôi trong hoàn cảnh đất nước khá  đặc biệt. Trong nước vua quan nhà Trần ngày càng tha hóa, mải ăn chơi sa đọa, ít quan tâm đến đất nước, sức dân mòn mỏi. Ngoài nước: phía Bắc nhà Minh ngày càng vững mạnh, hàng ngày hàng giờ dòm ngó tìm cách xâm lăng nước ta. Phía Nam quân Chiêm Thành luôn quấy nhiễu biên thùy; 3 lần đem quân ra tàn phá Thăng Long, khiến cho đất nước rơi vào cảnh quyệt quệ. Trước hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly một viên quan có tư tưởng tiến bộ tìm mọi cách phục hưng đất nước. Trưởng thành từ một quan đại thần với quan hệ thân tộc con rể vua Trần Minh Tông, sau nhiều năm củng cố lực lượng, Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần tự lập làm vua, mở đầu triều đại nhà Hồ trong lịch sử. Trước khi lên ngôi, năm 1394 được  Thái thượng hoàng nhà Trần bật đèn xanh “ sau khi Trẫm chết, quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi vua- Đại Việt sử ký toàn thư tập II tr 187”, Hồ Quý Ly dần nắm lấy quyền hành và tiến hành những cuộc cải cách mong phục hưng lại sức sống của dân tộc. Cùng với việc cải cách quân sự, những cuộc cải cách kinh tế được tiến hành, việc đầu tiên cải cách kinh tế dưới quyền ông là phát hành tiền giấy. Năm 1396 “ Mùa hạ tháng 4, bắt đầu phát tiền giấy Thông bảo hội sao. In xong ra lệnh cho người đến đổi, cứ một quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ Lân, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất tài sản bị tịch thu. Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về
kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như làm tiền giả”. Tiền giấy lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện, đánh dấu một chương mới trong lịch sử tiền tệ Việt Nam. Đồng tiền phát hành có hai yếu tố mới. Tiền không ghi niên hiệu vua. Đây là một phép thử ngoại lệ trong tiền tệ Việt Nam khai tử niên hiệu của triều đại Trần, chuẩn bị cho một triều đại mới. Chất liệu tiền là giấy chưa hề có trong tiền lệ lịch sử chế tác tiền Việt Nam. Tiền giấy sẽ góp phần giúp cho nhà Hồ thu về số lượng đồng lớn dùng để đúc vũ khí, đặc biệt là súng Thần công, một loại binh khí mới được ra đời trong thời gian này. Chính vì thế tiền giấy được nhà Hồ phát huy hiệu quả triệt để thời gian khi cầm quyền.
Tiền giấy  có nguồn gốc từ tờ giấy Khoán thời Đường, do tiền đồng nặng khi sử dụng số lượng lớn không thuận tiện nên sáng tạo ra tờ Khoán dùng“ để nhận tiền thực, đổi tiền giấy, nhận tiền giấy đổi tiền thực” có giá trị như tiền cho dễ mang đi trao đổi. “ Thời Tống gọi là giao hội, đời Kim mới gọi là sao”. Đời Tống, bộ lạc Nữ Chân vì ít đồng nên  theo tờ Giao hội làm ra tiền giấy. Nhà Trần giai đoạn cuối cũng sử dụng tờ Hội giao thay tiền và Hồ Quý Ly đã phát triển từ Hội Giao thành tiền giấy vừa tiết kiệm đồng vừa thuận lợi trong giao thương. Cho đến nay chúng ta chưa tìm được đồng tiền giấy nào cho nên chưa rõ kích thước, chất lượng giấy, kỹ thuật in ấn, cách thể hiện hình vẽ mà chỉ biết được qua ghi chép trong lịch sử. Nhưng những hiện vật thời Trần tìm được qua các cuộc khai quật khảo cổ học như hình rồng, thủy ba (sóng nước), tản vân (vân mây) khắc tạc trên các bệ đá thời Trần đã phần nào cho biết sự phức tạp của các họa tiết trang trí trên đồng tiền này. Tiền giấy cũng cho thấy, nghề sản xuất giấy có sự phát triển đặc biệt  với kỹ thuật cao sản xuất ra loại giấy để in tiền.
Tiền giấy được phát hành, kỹ thuật chế tác tiền giấy giả cũng xuất hiện. Năm 1399 chi sau 3 năm tiền giấy  giả xuất hiện. Sử chép  năm 1399 “tên cướp Nguyễn Như Cái trốn vào núi Thiết Sơn làm giả tiền giấy”
Năm 1400 Hồ Quý Ly lên ngôi cùng với hàng loạt cải cách kinh tế, chính sách hạn điền, hạn nô, thì việc sử dụng tiền giấy luôn được nhà Hồ quan tâm. Để kích thích lưu thông, trong chính sách hạn nô, ngoài số nô được cấp
có số lượng khác nhau số còn thừa phải dâng lên,“ mỗi tên được trả 5 quan tiền”. Năm 1401 “ Hán Thương đặt kho thường bình, phát tiền giấy cho các lộ theo giá cả để mua thóc lúa chứa vào kho”. Năm 1402 nhà Hồ thu thuế bằng tiền giấy “ người nào chỉ có 5 sào ruộng thì thu 5 tiền giấy; từ 6 sào đến 1 mẫu thì thu 1 quan; 1 mẫu 1 sào đến 1 mẫu 5 sào thu 1 quan 5 tiền; từ 1 mẫu 6 sào đến 2 mẫu thu 2 quanvv...” Năm 1403 “Đặt chức thị giám, ban hành cân thước, thưng, đấu, định giá tiền giấy cho mua bán với nhau.Bấy giờ, người buôn bán phần nhiều chê tiền giấy. Lại lập điều luật để xử tội không tiêu tiền giấy, bán giá cao, đóng cửa hàng, bao che giúp nhau.”. Lần đầu tiên ở nước ta xuất hiện luật pháp bảo vệ giá trị của tiền tệ
 Chính sách ngoại thương nhà Hồ cũng thu thuế bằng tiền giấy có giá trị như tiền đồng “ đánh thuế các thuyền buôn, định 3 mức thượng, trung, hạ. Mức thượng đánh thuế mỗi thuyền 5 quan, mức trung 4 quan, mức hạ 3 quan”.
Như vậy tiền giấy được phát hành năm 1396 đến nay đã được lưu thông khá phổ biến trong nhân dân và trở thành “quốc tệ” được nhà nước sử dụng trong các chính sách kinh tế của mình và đưa đồng tiền vào luật pháp bảo vệ. Chính vì những biện pháp kinh tế, luật pháp đồng tiền giấy được phát hành thời Hồ được sử dụng mãi về sau này trong tiền tệ Việt Nam. Tiền giấy là một bước phát triển mới với tính chất gọn nhẹ, dễ lưu thông trao đổi là tác nhân quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong giai đoạn này đặc biệt là thương nghiệp buôn bán trong và ngoài nước.
Bên cạnh tiền giấy là chủ đạo, nhà Hồ cũng cho đúc tiền đồng, đó là đồng Thánh Nguyên thông bảo. Đồng tiền này không thấy ghi chép trong chính sử, nhưng sự hiện diện của đồng tiền tìm được mang đặc điềm giống những đồng tiền thời Trần giai đoạn cuối, mặt tiền đề ghi chữ  Thánh Nguyên, niên hiệu Thánh Nguyên của Hồ Quý Ly năm 1400 cho thấy đây là tiền được đúc năm 1400.  Đồng tiền này được đúc chỉ có tính chất biểu tượng, đánh dấu niên hiệu của một triều đại mới. Tiền được đúc nhỏ, đường kính dưới 2,1cm, mỏng, chất lượng đồng kém cho thấy việc đúc rất tiết kiệm nguyên liệu đồng. Việc đúc tiền này chỉ có tính chất biểu tượng của một vương triều mới theo truyền thống tiền tệ Việt Nam, cho nên số lượng tiền đồng này không nhiều. Thời Hồ tiền giấy vẫn giữ vai trò chủ lực trong lưu thông tiền tệ. Cuối năm 1406 quân Minh xâm lược vào chiếm kinh thành “ thu lấy hết tiền đồng ở các xứ, cho chạy trạm đưa về Kim Lăng” thì những tiền đồng cuối cùng của nhà Hồ không còn. Lưu thông tiền tệ chỉ còn tiền giấy trong nền kinh tế.
Sau hơn 10 năm khởi nghĩa giành thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi lên ngôi lấy niên hiệu mới là Thuận Thiên, buổi đầu nhà Lê vẫn sử dụng tiền giấy nhà Hồ “ Ban tiền giấy và chi phí dọc đường cho bọn Nhữ Kính, đồng thời ban tiền giấy và áo lót vóc hoa cho sứ nước ta là bọn Lê Quốc Khí, sai họ cùng đi với bọn Nhữ Kính”. Cuối năm 1428 nhà Lê mới cho đúc tiền Thuận Thiên thông bảo, đồng tiền mang niên hiệu mới của triều đại mới, đánh dấu một giai đoạn mới của lịch sử tiền tệ Việt Nam. Tiền giấy nhà Hồ sau 32 năm phát hành và tồn tại cho đến nay đã chấm dứt vai trò lịch sử./.
 

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

VÀI NÉT VỀ ĐỒNG TIỀN THỜI TRẦN
(1226- 1400)
Hơn hai thế kỷ, những đồng tiền thời Lý được phát hành, sử dụng thường xuyên đã phát huy tác dụng kích thích nền kinh tế dân tộc phát triển, tạo nền móng vững chắc cho nền tài chính quốc gia độc lập tự chủ. Bước vào thời Trần, những đồng tiền Việt Nam đã vững mạnh trở thành mạch máu lưu thông cho nền kinh tế, góp phần vào sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc.

 Sau những biến động thăng trầm cuối vương triều Lý, năm 1225 nhà Trần kế tục sự nghiệp nhà Lý bằng diễn tiến hòa bình. Lý Chiêu Hoàng vị vua cuối cùng của nhà Lý nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh sáng lập nên vương triều Trần đầy võ công hiển hách trong lịch sử 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên – Mông bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền của dân tộc. Nhà Trần kéo dài 176 năm ( 1225 -1400) với 13 đời vua về cơ bản vẫn ổn định duy trì phát triển một cơ cấu xã hội như thời Lý, nền kinh tế dần được phục hưng. Những hoạt động nội thương và ngoại thương được xây dựng đặt tiền đề cơ sở từ thời Lý đến triều Trần đã phát huy tác dụng. Xã hội xuất hiện  tầng lớp con buôn trong đó có vương công quý tộc nhà Trần (Trần Khánh Dư ). Nhiều ngành nghề liên quan đến tiền xuất hiện như đánh bạc, cầm cố, cho vay nặng lãi, mua bán chức tước vv... chứng tỏ đồng tiền đã phát huy tác dụng và chi phối đời sống xã hội khá sâu sắc. Trong 13 vua đời Trần có 5 đời vua cho đúc tiền, có vua cho đúc nhiều lần với số lượng lớn. Những lần đúc tiền là những thời điểm bước ngoặt trong đời sống kinh tế cộng đồng, những đồng tiền được đúc ra đã phát huy tác dụng, làm ổn định xã hội, tăng cường ngân khố quốc gia, tạo nên sức mạnh cho nền kinh tế thời Trần trong lịch sử.
INhững đồng tiền thời Trần
1.Trần Thái Tông ( 1226 – 1258) lên ngôi kế thừa di sản cuối mùa của vương triều Lý với nền kinh tế suy đốn, kho tàng trống rỗng vì loạn lạc. Để phục hưng kinh tế sau khi ổn định xã hội Trần Thái Tông cho điều chỉnh giá trị đồng tiền và đúc tiền lưu hành. Sử cũ ghi lại năm 1226 “ Xuống chiếu cho dân gian dùng tiền “tỉnh bách” mỗi tiền là 69 đồng. Tiền nộp cho nhà nước (tiền thượng cung) thì mỗi tiền là 70 đồng - Đại Việt sử ký toàn thư tập II tr 9”. Hơn 30 năm cầm quyền với 3 niên hiệu, Trần Thái Tông đã nhiều lần cho đúc tiền mang  3 niên hiệu của thời đại . Hiện nay khảo cổ học còn tìm thấy 3 niên hiệu tiền thời Trần Thái Tông.
- Niên hiệu Kiến Trung (1226 -1232) là tiền Kiến Trung Thông Bảo.
Tiền đúc hình tròn, đường kính2,1cm – 2,14cm. Vành biên hơi rộng, phẳng. Giữa lỗ vuông có gờ nổi.Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Cách đọc tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau phẳng
     
Tiền Kiến Trung Thông Bảo       
- Niên hiệu Thiên ứng Chính Bình ( 1232 -1251) đúc tiền Chính Bình thông
bảo.Tiền đúc hình tròn. Vành biên rộng phẳng, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau trơn phẳng.
        
Tiền Chính Bình thông bảo
- Niên hiệu Nguyên Phong ( 1251 -1258) đúc tiền Nguyên Phong thông bảo
Tiền đúc hình tròn. Vanh biên rộng, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Chữ có hai loại chữ chân và chữ thảo, điều này cho thấy đồng tiền này có hai lần đúc học khi đúc sử dụng hai khuồn đúc khác nhau
     
Tiền Nguyên Phong thông bảo.
. Cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau trơn phẳng
2. Trần Thánh Tông ( 1258-1278 )ở ngôi 20 năm có hai niên hiệu là Thiệu Long
và Bảo Phù. Hiện nay mới tìm được tiền Thiệu Long thông bảo. Tiền đúc hình tròn, vành biên rộng phẳng, giữa có lỗ vuông. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau phẳng nhẵn.Đây là đồng tiền duy nhất được đúc dưới thời Trần Thánh Tông
Tiền Thiệu Long thông bảo
3. Sau một thời gian dài các đời Vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông không thấy sử cũ ghi lại việc đúc tiền tệ và cũng chưa tìm được đồng tiền đúc vào thời này đến thời Vua Trần Minh Tông  nhà Trần lại tiến hành đúc tiền cho lưu thông ngoài xã hội.  Trong những niên hiệu được sử dụng, niên hiệu Khai Thái ( 1324 -1329) nhà Trần cho đúc tiền Khai thái nguyên bảo. Tiền đúc hình tròn, đường

kính 2,37cm. vành biên rộng phẳng, giữa có hình vuông có gờ, lỗ hơi tròn.Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trên trước, dưới sau; phải trước trái sau. Mặt sau tiền Khai Thái nguyên bảo có hai loại, một loại mặt sau trơn phẳng; một loại mặt sau trơn những có chữ Trần.
Khai Thái nguyên bảo
4. Trần Dụ Tông là đời vua Trần đúc nhiều tiền nhất, nhiều lần đúc với số lượng lớn. Niên hiệu Thiệu Phong( 1341- 1357) có hai lần đúc tiền: Thiệu Phong nguyên bảo và Thiệu Phong thông bảo. Tiền Thiệu Phong nguyên bảo có đến 4 loại khác nhau. Điều này cho thấy có khả năng nhà nước có 4 xưởng đúc tiền khác nhau, hoặc 4 lần đúc loại tiền này với thời gian khác nhau. Tiền Thiệu phong
thông bảo có đến 20 loại khác nhau đã cho thấy nhu cầu sử dụng tiền và đúc tiền rất rầm rộ, trước nhu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế.Niên hiệu Đại Trị ( 1358 -1369) Trần Dụ Tông lại cho
Thiệu Phong nguyên bảo và thông bảo
đúc liên tiếp các đồng tiền Đại Trị nguyên bảo; Đại Trị thông bảo. Tiền Đại trị nguyên bảo có đến 5 loại tiền với các lối chữ viết khác nhau. Tiền Đại Trị thông
bảo còn phong phú hơn với nhiều loại. Những đồng tiền này cơ bản có kích thước giống nhau, đường kính 2,35cm – 2,38cm. Mặt trước viết chữ, cách đọc trên dưới, phải trái.
Tiền Đại Trị thông bảo
5. Sau Trần Dụ Tông, Trần ( Dương) Nhật Lễ lên ngôi lấy niên hiệu Đại Định ( 1369 -1370), ông đã cho đúc tiền Đại Định thông bảo. Tiền Đại Định thông bảo
 được đúc hình dáng và kích thước như các đồng tiền thời Trần khác. Tiền hình tròn, giữa có lỗ vuông. mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm,  cách đọc trên trước dưới sau, phải trước trái sau, nét chữ sắc sảo. Mặt sau để trơn nhẵn.
6. Trần Nghệ Tông lên ngôi ( 1370 -1372), niên hiệu
Đại Trị thông bảo
Thiệu Khánh ông cho đúc tiền Thiệu Khánh thông bảo. Đồng tiền này được sử liệu ghi chép, nhưng cho đến nay còn lại rất hiếm hoi
II. Tiền tệ thời Trần và những hệ quả.
Trong lịch sử, thời gian cầm quyền của nhà Trần không kéo dài như thời Lý, nhưng việc đúc và sử dụng đồng tiền nhiều hơn, rộng rãi hơn. Đồng tiền lưu thông trở thành động lực chính để phát triển kinh tế. Có tiền kinh tế hàng hóa phát triển, các ngành sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp, mua bán ngoại thương được đẩy mạnh. Đồng tiền được sử dụng mua bán ruộng đất. Năm 1253 nhà nước “ bán ruộng công, mỗi diện là 5 quan tiền( bấy giờ mẫu gọi là diện) cho phép nhân dân mua làm ruộng tư”.Năm 1266 “ Xuống chiếu cho vương hầu công chúa phò mã cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng bỏ hoang thành lập điền trang.”. Tiền hoạt động kinh doanh thương nghiệp trong nước. Hệ thống chợ phát triển rộng rãi khắp nơi , từ kinh kỳ đến thôn quê. Sứ nhà Nguyên Trần Phu cho biết “ Chợ ở thôn xóm hai tháng họp một lần, trăm thứ hàng hóa tụ họp ở đây. Cứ năm dặm thì dựng một cái nhà, bốn mặt đều đặt chỗng để làm nơi họp chợ ”. Hoạt động thương mại góp phần kích thích nền sản xuất hàng hóa phát triển. Tiền sử dụng trong hoạt động ngoại thương buôn bán với thương nhân nước ngoài.Ngoài thương cảng Vân Đồn ( Quảng Ninh)  xuất hiện từ thời Lý do nhà nước kiểm soát thì các thương cảng ven biển cũng hoạt động khá sôi nổi như cảng Diễn Châu ( Nghệ An); Hội Thống ( Hà Tĩnh). An Nam tức sự của Trần Phu cho biết “ Phủ Thanh Hóa...cách thành Giao Châu hơn hai trăm dặm. Các thuyền phiên hải ngoại tụ tập ở đấy, họp chợ ngay trên thuyền rất đông vv... với lái buôn các nước Xiêm ; Java; Lộ Hạc; Hồi Hột; đặc biệt là các thương nhân Trung quốc. Kích thích nền thương nghiệp phát triển, nhà Trần luôn cho đúc tiền bổ xung làm vật trung gian trao đổi thuận lợi.Nhiều ngành nghề liên quan đến tiền xuất hiện như đánh bạc, cầm cố, cho vay nặng lãi, mua bán chức tước, phạt lỗi quan lại vv... chứng tỏ đồng tiền đã phát huy tác dụng và chi phối đời sống xã hội khá sâu sắc. Đồng tiền đã  góp phần làm tha hóa một bộ phận cư dân cho đến vua quan trong xã hội.  Năm 1362 vua “ gọi các nhà giàu trong nước như ở làng Đình Bảng thuộc Bắc Giang, làng Nga Đình thuộc Quốc Oai vào cung đánh bạc. Có tiếng bạc đặt tới 300 quan tiền, ba tiếng thì đã tới gần nghìn quan rồi”. Các quan cũng đua nhau đánh bạc “thua vài chục quan là vò đầu bứt tóc khổ sở”. Quan hệ tiền tệ đã kích thích sự phát triển nền kinh tế trong các lĩnh vực công và ngược lại sự tác quái của đồng tiền cũng xuất hiện chi phối đời sống của con người.
Cuối thời Trần vào thế kỷ 14, xã hội phong kiến lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Kinh tế  dần suy yếu. Thiên tai địch họa luôn xảy ra, các cuộc chiến tranh với Chiêm Thành và Ai Lao kéo dài liên miên làm cho Vương triều Trần  dần suy yếu. Hồ  Quý Ly dần tập hợp lực lượng, thâu tóm quyền hành, tạo ra những uy thế đầu tiên để dần nắm lấy chính quyền. Năm 1400, Quý Ly truất  ngôi Vua Trần Thiếu Đế, tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu. Trong 7 năm ở ngôi, Quý Ly đã thực hiện nhiều cuộc cải cách kinh tế, trong đó có cải cách tiền tệ, đánh dấu một chương mới trong lịch sử tiền tệ Việt Nam./.
 

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

VÀI NÉT VỀ NHỮNG ĐỒNG TIỀN THỜI LÝ
( 1009 -1225)

                                                                          
              Những đồng tiền được đúc và đưa ra lưu hành của các triều đại buổi đầu độc lập dưới triều Đinh – Lê đã đặt nền móng vững chắc cho lịch sử tiền tệ Việt Nam. Sự có mặt của các đồng tiền đã góp phần khẳng định chủ quyền dân tộc – chủ quyền về tài chính.  Những đồng tiền độc lập, tự chủ   đã góp phần gìn giữ nền độc lập  dân tộc và xây dựng đất nước.
                   Sau hai triều đại (Đinh – Tiền Lê) xây dựng và củng cố nền độc lập tự chủ dân tộc kéo dài hơn 40 năm (968 – 1009), những đồng tiền Việt Nam đúc dần có ảnh hưởng rộng lớn trong cuộc sống của dân cư. Năm 1010, khi Lý Công Uẩn lên ngôi,  tháng 2 khi về thăm quê hương đã “ ban tiền, lụa cho các bô lão trong làng theo thư bậc khác nhau - Đại Việt sử ký toàn thư tập I- tr 240”. Tháng 7, dời đô về Thăng Long “nơi thắng địa, bốn phương tụ hội.”, xây dựng một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, ông “xuống chiếu phát 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức- Đại Việt sử ký toàn thư tập I- tr 241 ” Những tư liệu cho thấy lúc đó trong cung Vua đã có kho tiền lớn và tiền được sử dụng khá rộng rãi trong dân.Vương triều Lý  trị vì đất nước 215 năm (1009 -1225), kéo dài 8 đời vua mở đầu là Lý Công Uẩn, kết thúc là Lý Huệ Tông là một thời kỳ phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của dân tộc. Sự phát triển ấy được thể hiện qua hầu như các vua nhà Lý đều đúc tiền để lưu thông trong nước và buôn bán.Trong 8 đời vua nhà Lý hiện biết có 5 đời với  8 lần đúc tiền mang niên hiệu của mình.
I Những đặc trưng cơ bản của tiền thời Lý.
1. Lý Công Uần lên ngôi lấy niên hiệu là Thuận Thiên kéo dài 19 năm( 1010 -1029), thời kỳ này ông cho đúc tiền Thuận Thiên Đại Bảo.
Tiền đúc hình tròn, đường kính khoảng 2,5cm; bên ngoài có vành trơn. Chính giữa là lỗ vuông có gờ nổi,  chữ đúc  nổi đối xứng nhau qua tâm, cách đọc trên trước dưới sau, phải trước trái sau. Mặt sau có đúc chữ Nguyệt. Chữ đúc nổi nét chữ khá gọn sắc.
Mặt trước và sau tiền Thuận Thiên Đại Bảo
 Trong 19 năm cầm quyền, cho đến nay sử liệu chưa cho biết Lý Công Uẩn có bao nhiêu lần đúc tiền, nhưng cho đến nay chỉ tìm thấy một loại tiền duy nhất và số lượng chưa nhiều lắm.
2. Năm 1029 Lý Thái Tông lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Thiên Thành, trị vì 26 năm (1054) 6 lần đổi niên hiệu và  sử cũ  ghi lại có 3 lần đúc tiền. Năm 1039 đổi niên hiệu là Càn Phù Hữu đạo, niên hiệu này kéo dài đến năm 1042. Thời gian này vua Lý cho đúc tiền Càn Phù Nguyên bảo.
Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,15cm – 2,35cm. Vành ngoài khá rộng để trơn, chính giữa là lỗ vuông, có gờ nổi. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Chữ viết gọn,
Tiền Càn Phù Nguyên Bảo
nét sắc sảo, chất lượng đồng tốt. Mặt sau để trơn nhẵn. Năm  1042 Lý Thái Tông “ đổi niên hiệu là Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo- Đại Việt sử ký toàn thư tập I- tr 263”. Năm 1043 “Năm ấy lại đúc tiền Minh Đạo ban cho các quan văn võ- Đại Việt sử ký toàn thư tập I- tr 245”. Trong hai năm Lý Thái Tông cho đúc tiền hai lần chứng tỏ nhu cầu tiền bạc trao đổi đòi hỏi rất lớn. Những đồng tiền này ngày nay được khảo cổ học biết đến với hai loại khác nhau. Một loại nét chữ nổi to, thô; một loại nét chữ gọn mảnh mai hơn. Nhìn chung tiền Minh Đạo Nguyên Bảo được đúc có hình tròn, đường kính 2,15cm – 2,35cm. Vành ngoài nhỏ trơn nhẵn. Giữa lỗ vuông có gờ nổi. Chữ viết đối xứng qua tâm. Cách đọc vòng tròn
theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau để trơn nhẵn. Cuối năm 1044 Lý Thái Tông lại đổi niên hiệu là Thiên Cảm Thánh Vũ sử dụng đến năm 1049. Thời kỳ này nhà Lý có đúc tiền. Sử liệu Việt Nam không ghi chép nhưng sử liệu nhà
Mặt trước và sau tiền Minh Đạo Nguyên Bảo
Nam Tống  cho biết “chữ trên tiền Thiên Cảm Nguyên Bảo có hai loại to nhỏ khác nhau, nét chữ khỏe khoắn, mạnh mẽ...” Đây cũng có lẽ là những đồng tiền được đúc theo truyền thống tiền Minh Đạo Nguyên Bảo. Loại tiền Thiên Cảm Nguyên Bảo đúc hình tròn, vành ngoài rộng để trơn. Giữa lỗ vuông có gờ nổi.  Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ
. Mặt sau để trơn.  Tiền được tìm thấy có hai mẫu lớn nhỏ khác nhau. Loại lớn đường kính 2,37cm – 2,4cm; loại nhỏ đường kính 2,1cm. Chữ viết  nổi gọn, nét sắc sảo. Loại mặt sau không để trơn có đúc chữ “Càn vương”. Theo một cách lý
Mặt trước và sau tiền Thiên Cảm Nguyên Bảo
giải, đây là loại tiền Lý Thái Tông cho đúc để kỷ niệm  con trai là Lý Nhật Trung được triều đình  phong Càn Vương (?)
3. Lý Nhân Tông lên ngôi  1072, ở ngôi 55 năm (1127) có 5 lần đổi niên hiệu. Thời kỳ này cho đến nay, khảo cổ học tìm được tiền  Thiên phù Nguyên Bảo, niên hiệu của Lý Nhân Tông (1120 – 1126 ;Thiên Phù Duệ Vũ và  1127-Thiên Phù Khánh Thọ).
 Tiền Thiên Phù Nguyên Bảo chắc được đúc từ năm 1120 – 1127.Tiền được đúc hình tròn, đường kính 2,1cm – 2,25cm. Vành ngoài rộng phẳng.  Giữa có lỗ vuông, gờ nổi rõ. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn
Mặt trước và sau tiền Thiên Phù Nguyên Bảo
theo chiều kim đồng hồ. Chữ đúc nổi, nét gọn. Mặt sau để trơn nhẵn.
4. Lý Anh Tông lên ngôi năm 1139- 1175 với 3 lần đổi niên hiệu. Dù sử liệu không ghi chép về việc đúc tiền, những khảo cổ học phát hiện thời kỳ này có  2 loại tiền được đúc mang niên hiệu của thời kỳ này.
- Tiền Đại Định Thông Bảo  được đúc trong niên hiệu Đại Định của Lý Anh Tông (1140 -1162). Tiền được đúc hình tròn, đường kính loại lớn
Tiền Đại Định Thông Bảo và
 Chính Long Nguyên Bảo
3,75cm, loại nhỏ 2,15cm. Vành biên tiền nhỏ phẳng. Giữa lỗ hình vuông với gờ nổi lên. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm. Cách đọc trên trước dưới sau, phải trước dưới sau.  Chữ viết gọn đẹp sắc sảo.Mặt sau thường để trơn
-  Tiền Chính Long Nguyên Bảo được đúc trong niên hiệu Chính Long Bảo ứng của Lý Anh Tông (1163 – 1174). Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,02cm – 2,53cm. Viền biên tiền nhỏ phẳng. Giữa có lỗ hình vuông, gờ nổi . Mặt trước viết chữ đối xứng qua tâm. Cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau để trơn phẳng.
5. Lý Cao Tông lên ngôi năm 1176, trị vì đến năm 1210. Trong 35 năm trị vì có 4 lần đổi niện hiệu, trong đó có 4 lần đúc tiền theo niên hiệu
- Tiền Trị Bình Thông Bảo được đúc theo niên hiệu Trị Bình Long ứng (1205 – 1210). Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,4cm. Vành biên rộng phẳng; giữa có lỗ vuông với gờ nổi. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc trên trước dưới sau, phải trước trái sau. Mặt sau để trơn phẳng.

Trị Bình Thông Bảo
Trị Bình Nguyên Bảo
 Trị Bình Thánh Bảo
- Tiền Trị Bình Nguyên Bảo được đúc theo niên hiệu Trị Bình Long ứng. Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,03cm – 2,13 cm. Vành biên hẹp; giữa có lỗ vuông , gờ viền nổi. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau lưng phẳng nhẵn.
- Tiền Trị Bình Thánh Bảo đúc theo niên hiệu Trị Bình Long ứng. Tiền đúc hình tròn, đường kính 2,03 – 2,13cm. Vành biên tiền rộng và phẳng, giữa có lỗ vuông, có gờ nổi. Mặt trước chữ viết đối xứng qua tâm, cách đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ. Mặt sau trơn nhẵn.
 Sự xuất hiện của 3 đồng tiền thời Lý Cao Tông dưới niên hiệu Trị Bình Long ứng ngắn ngủi ( 1205 -1210) đã khiến cho các nhà nghiên cứu nghi ngờ về tính chân thực của nó, nhưng có lẽ đây là những giả thiết cần nghiên cứu sau hơn về tiền tệ thời Lý khi có tài liệu. Có một loại tiền Thiên Tư Nguyên bảo được đúc theo niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy (1186 – 1202) thời Lý Cao Tông, đường kính 2,45cm – 2,5cm, chữ đọc vòng tròn theo chiều kim đồng hồ và một loại đọc chéo, nhưng do sự hiếm hoi của nó cho nên chúng ta mới chỉ được biết đến mà chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu.
II. Tiền tệ thời Lý và những “cú hích” cho nền kinh tế
 Với hơn hai thế kỷ quản lý đất nước, có thể thấy tiền tệ thời Lý luôn có sự phát triển, bổ xung tạo nên nguồn ngân quỹ chính quốc gia.Đồng tiền dần đóng vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội. Ngay từ khi lên ngôi Lý Thái Tổ đã xuống chỉ “Tiền là huyết của dân, không thể thiếu”. Chính vì thế khi về quê hương đã “ ban tiền, lụa cho các bô lão trong làng ” hay sử dụng đến “ phát 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức”. Tiền thời Lý được qui định 1 tiền là 50 đồng. 1 quan có 10 tiền = 500 đồng. Như vậy cho thấy số tiền được sử dụng lưu hành khá lớn. Để có được số tiền lớn, đầu tiên là phải thúc đẩy khai thác các mỏ đồng lấy nguyên liệu, thứ đến phải tập trung thợ giỏi lập nên các phường đúc và thứ ba là phải quản lý được số lượng tiền phát ra. Trong điều kiện buổi đầu độc lập chỉ có nhà nước tập quyền trung ương mới đáp ứng được các yêu cầu. Nhà Lý đã có những kho tiền quốc gia lớn. Lượng tiền ấy được sử dụng  xây dựng các công trình kiến trúc cung điện, chùa chiền tạo nên diện mạo mới cho nền văn hóa đất nước. Các kiến trúc chùa Trấn Quốc, chùa Một cột, đền Bà Tấm (Hà Nội); chùa Phật tích, chùa Dạm (Bắc Ninh);  chùa tháp Tường Long (Hải Phòng); chùa Long Đội, tháp Chương Sơn (Nam Hà) vv.. năm 1031 “ xuống chiếu phát tiền thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ” hay các hoạt động tôn giáo khác như “ vua sai thợ tạc hơn 1000 pho tượng phật, vẽ hơn nghìn bức tranh phật, làm bảo phướn hơn một vạn lá”...  đã cho thấy số lượng tiền được sử dụng lớn, đưa vào thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đặc biệt là sự phát triển của các ngành tiểu thủ công nghiệp
 Đầu thời Lý, cuộc cải cách hành chính lớn; đổi 10 đạo thành 24 lộ lấy Thăng Long làm trung tâm kinh tế đã tạo nên sức sống mới cho vùng đất. Với nền kinh tế sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, thời nhà Lý ban hành  nhiều chính sách khuyến nông cởi mở đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển, hàng hóa sản xuất tăng lên, nhu cầu trao đổi các vùng ngày càng lớn, nhu cầu mua và bán đẩy mạnh lưu thông tiền tệ thông qua hệ thống chợ tại kinh đô cũng như các vùng quê. Sử liệu cho biết ngoài chợ Đông trong kinh thành, năm  1035 “Mở chợ Tây Nhai và dãy phố dài ở chợ ấy”. Những hoạt động kinh tế trong một thời kỳ dài khá ổn định như sử liệu ghi chép , năm 1016 “ 30 bó lúa giá 70 đồng”.Đồng tiền giữ vị thế vững chắc trong đời sống xã hội . Thăng Long đã trở thành một trung tâm kinh tế thương mại về hàng nông nghiệp và thủ công nghiệp của cả nước. Giá cả ổn định, tiền tệ lưu thông phản ánh nền kinh tế nói chung và nội thương có bước phát triển. Đồng tiền đã kích thích nền kinh tế  sản xuất hàng hóa tạo nên ngành kinh tế nội thương  phát triển rộng khắp.
 Kinh tế hàng hóa phát triển là tiền đề để thúc đấy ngoại thương phát đạt, các thương điếm buôn bán ven biển xuất hiện. Năm 1149 “Mùa xuân tháng 2. thuyền buôn ba nước Trảo Oa; Lộ Lạc; Xiêm La vào Hải Đông xin cư trú buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo gọi là Vân Đồn để buôn bán hàng hóa quý”.  Như vậy vào thời Lý bên cạnh những thương nhân Trung Hoa, ngoại thương Việt Nam đã có sự tham gia của các thương nhân các nước trong khu vực Đông Nam á. Bên cạnh  ngoại thương đường biển, ngoài thương đường bộ cũng đẩy mạnh với  “Bạc dịch trường” dọc tuyến biên giới vơi các địa điểm: Vĩnh Bình, Như Hồng, Hoành Sơn, Tô Mậu vv... Để có được nền ngoại thương nhộn nhịp, sống động, sự đóng góp của tiền tệ – vật trung gian là không thể thiếu.Số vốn một chuyến đi buôn bán trong một năm lên đến hàng nghìn quan. Như vậy, ở thời Lý, tiền đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nội thương và ngoại thương  để xây dựng đất nước.
Không những là mạch máu trong hoạt động kinh tế, tiền còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều lịch vực được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Tiền là nguồn thu ngân sách của vương triều.Năm 1013 định các lệ thuế : tiền  và thóc về bài dâu. Hay là vật ban thưởng mỗi khi lên ngôi:  Năm 1028 nhân việc mới lên ngôi “ xuống chiếu lấy tiền lụa trong kho lớn ban cho thiên hạ”; ban phát  thưởng cho quan lại “ phát quần áo, tiền lụa trong Nội phủ để ban cho”, hay chẩn cấp cho dân nghèo khi đói kém “ năm 1070 phát thóc và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo” vv..
 Tóm lại, tiền tệ thời Lý đã trở thành công cụ hữu hiệu được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, đưa vương triều Lý phát triển toàn diện, trên mọi mặt kinh tế, văn hóa, tạo nên một thời kỳ có tiếng là văn minh trong lịch sử dân tộc. Từ vật trung gian, tiền tệ đã chi phối, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi cộng đồng người trong xã hội và là động lực thúc đẩy xã hội phát triển đi lên. Đó là những đóng góp  của tiền tệ thời Lý góp phần đặt nền tảng cơ bản cho xã hội Việt Nam phát triển vào những giai đoạn sau của lịch sử dân tộc.
Kỳ sau: Tiền tệ trong lịch sử Việt Nam – tiền thời Trần( 1225- 1400)
 

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016


CHÙA NHẪM DƯƠNG (HẢI DƯƠNG) VÀ THIỀN PHÁI PHẬT GIÁO TÀO ĐỘNG



Phật giáo là tôn giáo lớn, đóng vai trò quan trọng, đồng hành theo suốt chiều dài lịch sử nền văn hóa dân tộc. Mặc dù có nguồn gốc "ngoại sinh", khi hội nhập vào đời sông tinh thần của người dân, Phật giáo đã trở thành hệ tư tưởng và có nhiều đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ  nền độc lập và bản sắc văn hóa dân tộc.Trong quá trình hội nhập và phát triển, trong mỗi giai đoạn lịch sử các Thiền phái  Phật giáo có nhiều đóng góp khác nhau, trong đó có thiền phái Tào Động, xuất hiện trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ XVII - XVIII
I.Vài nét về nguồn gốc:
Theo lịch sử nguồn gốc Thiền Phái Tào Động xuất hiện tại Trung Hoa vào thế kỷ IX. Thiền phái này có hai thiền sư Ðộng Sơn và Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901) sáng lập. Vào thế kỷ XVII thiền phái được du nhập vào Việt Nam Theo tấm bia chùa Hồng Phúc (Hà Nội) soạn năm 1932 cho biết vị Tổ thứ nhất của thiền phái ở Việt Nam là Hòa thượng Thủy Nguyệt, pháp húy Thông giác đạo Nam thiền sư và được coi là truyền thừa đời thứ 36 của thiền phái Tào Động nói chung.
Theo hành trạng của Tổ cho biết ông sinh năm 1637, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng đạo Sơn Nam, vốn có nguồn gốc gia đình " thi thư đời trước nối truyền, đạo đức sửa mình trong sạch. Thiếu thời thi đỗ nho khoa, tên sớm nêu cao bảng hổ. Tráng niên nghiên cứu thêm Thiền học..." (1). Xuất thân từ gia đình nho học,  năm 18 tuổi thi đỗ Cống cử tứ trường, năm 20 tuổi chán cảnh bọt bèo dâu bể tìm để chùa xã Hổ Đội, huyện Thụy Anh xin xuất gia học đạo. Năm 1664, ông cùng hai đệ tử đi  tu học tại  chùa trên núi Phượng Hoàng, Hồ Châu (Trung Quốc) trực tiếp với Hòa thượng Nhất Cú Trì giáo tổ thứ 35 của thiền phái Tào Động " đạo vốn nhận từ núi phượng xa xôi". Trong sáu năm theo học căn cốt   giáo lý  cơ bản của thiền phái Tào Động, năm 1667 (2) ông trở về Việt Nam cư trú tại chùa Vọng Lão ở núi An Sơn, huyện Ðông Triều, tỉnh Hải Dương,  hoằng Dương giáo lý của thiền phái này.
Với giáo lý "Dòng Tào Ðộng chủ trương Vị quân thần".
Có vua là vì có bầy tôi, có bầy tôi là vì có vua:
Vua trông thấy bầy tôi.
Bầy tôi hướng về vua
Vua (một mình)
Bầy tôi (một mình)
Vua và bầy tôi (bên nhau).
Ông đã có mặt tại nhiều ngôi chùa trên các vùng để lan tỏa giáo lý: Tư Phúc (Côn Sơn - Hải Dương),  Quỳnh Lâm, Yên Tử, Đông Sơn vv... Đặc biệt tại kinh đô Thăng Long: các chùa Hàm Long, Hòa Giai và Trấn Quốc (Hà Nội) đều thuộc tông phái Tào Ðộng. Sức sống của thiền phái Tào Động lan tỏa ảnh hưởng khá rộng. Năm 1704, ông mất thọ sáu mươi tám tuổi, được coi là ông tổ thứ nhất của thiền phái Tào Động (Nam thiền sư) ở Việt Nam và tổ thứ 36 của thiền phái Tào Động nói chung.
Vài sơ lược hành trạng của Hòa thượng Thủy Nguyệt- tổ thứ nhất cho thấy:(3)
- Bối cảnh xã hội Việt Nam lúc đó sau cuộc chiến tranh Lê - Mạc liên miên, mặc dù Phật giáo có bề dày hàng ngàn năm trong đời sống tinh thần dân tộc với nhiều thiền phái đóng góp đáng kể, nhưng sau chiến tranh chùa chiền bị quên lãng, phá hủy, sức sống Phật giáo bị tản mát. Cho nên sau chiến tranh việc phục hưng phật giáo để củng cố ý thức hệ dân tộc, tái cấu trúc một xã hội ổn định là việc làm cấp thiết. Thiền phái Tào Động xuất hiện trong thời điểm lịch sử đó  đáp ứng được nhu cầu của dân tộc.
- Tổ thứ nhất của thiền phái Tào Động ở Việt Nam là nhà nho khoa bảng xuất gia. Ông có nền tảng kiến thức cơ bản  về nhận thức xã hội, nhận thấy nên và cần có một thiền phái Phật giáo phù hợp điều kiện xã hội mới để xây dựng hệ tư tưởng  phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Ông đã chọn giáo lý của phái Tào Động làm mục tiêu truyền bá. Xuất thân từ Đại khoa nho giáo ông có đủ kiến thức để nhận biết, tiếp thu giáo lý đạo Phật căn cốt, có chọn lọc phục vụ cho mục đích.
- Phái Tào Động truyền vào Việt Nam  do được người Việt Nam chủ động du nhập. Giáo lý được tiếp thu cơ bản, trực tiếp từ nơi khai sinh ra thiền phái tôn giáo này. Người tiếp thu, truyền bá có kiến thức quảng bác, chọn lọc phù hợp với tinh thần dân tộc nên thiền phái Tào Động có điều kiện dương danh và lưu truyền rộng rãi lâu dài cho đến ngày nay.
II. Chùa Nhẫm Dương và những ngôi chùa liên quan.
Hơn 3 thập niên cuối đời  hoằng dương giáo lý thiền phái Tào Động, tư liệu ghi chép về những địa danh cho biết ông đã tiếp xúc với Hòa thượng chùa Thượng Long (Đông Triều) và trụ lại tại chùa Hạ Long để khuông đồ lãnh chúng' "Sư ở đây không bao lâu dân chúng đến nghe pháp và quy y rất đông"
Từ chùa Hạ Long, cuối đời " Sư bảo bổn chúng rằng: Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương, nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm thì ta ở đấy. Tứ chúng bùi ngùi mà không dám theo. Đợi đúng 7 ngày không thấy nhà sư trở về, tứ chúng cùng nhau kéo lên núi Nhẫm Dương nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, mọi người tìm đến một cái hang thấy sư ngồi kiết già trên trên tảng đá trong hang... Tứ chúng thỉnh nhục thân sư về hỏa táng, chia linh cốt thờ hai nơi, một ở chùa Hạ Long, một ở hang núi Nhẫm Dương".
Như vậy trong hành trạng của mình, tài liệu cho biết Thủy Nguyệt tổ sư liên quan đến 3 địa danh: chùa Hổ Đội quê hương, nơi xuất gia đầu tiên. Chùa Hạ Long nơi chù trì và  chùa Nhẫm Dương nơi tịch tại hang núi Nhẫm Dương. Cốt được thờ hai nơi: chùa Hạ Long và Nhẫm Dương. Từ đó tín đồ coi chùa Nhẫm Dương là chốn Tổ Đình.
 Do thăng trầm biến động của lịch sử, qua năm tháng khảo sát những địa danh ghi chép cho thấy:
1. Chùa Thượng Long:
 Dấu tích chùa Thượng Long nằm trên ngọn núi cao trên 820m so với mực nước biển thuộc xã Bình Khê, thị trấn Mạo Khê. Chùa nằm nơi cao nhất của dãy núi nên tên chùa là Thượng Long? Đỉnh là khoảng đất khá phẳng rộng. Chính giữa là một " huyệt linh"  khá vuông vức trấn trời đất rộng khoảng 9m2 , hiện mọc đầy lau sậy, mà người dân ở đây tương truyền là giếng? Bên cạnh là khối đá sạn hình khối chữ nhật được coi là Mộ thiêng của vị Thiền sư, người thường đàm đạo với sư tổ Tào Động. Phía Đông  thấp dưới sườn là khoảnh đất phẳng, hiện còn lại dấu vết nền chùa cũ. Dựa vào địa hình cho thấy quy mô chùa khá nhỏ. Chắc được dựng bằng vật liệu kém bền vững nên chưa thấy dấu vết vật liệu bền vững. Phía Tây còn lại là ngôi mộ thủy Tổ(?) mới được tôn tạo. Với dấu tích, địa danh còn lại  có thể thấy đây là địa điểm Phật giáo liên quan đến Tổ Sư thiền phái Tào Động
Hai Ngôi Mộ(?) liên quan đến chùa Thượng Long
2 Chùa Hạ Long:
Chùa nằm dưới vị trí sườn núi thấp trên đường lên chùa Thượng Long. Do năm tháng chùa hiện nay được tôn tạo lại. Kiến trúc xưa duy nhất để lại là tháp Mộ. Căn cứ vào dáng tháp, số tầng, kỹ thuật xây dựng cho thấy đây là ngọn tháp được xây dựng vào thế kỷ XVIII. Có thể đây là nơi chứa Bảo cốt của thiền sư Tổ.
3 Chùa Non Đông (Tường Quang)
 Chùa Non Đông tọa lạc trên vùng đất phẳng dưới chân núi thuộc khu Vĩnh Lập, thị trấn Mạo Khê (Đông Triều). Do biến loạn xã hội, chùa cũ không còn, trên địa điểm xưa chùa được tôn tạo lại. Khảo sát hiện trạng cho thấy, tại đây còn lưu giữ 01 tấm bia thế kỷ XIV. Niên hiệu Khai Hựu năm thứ 3 với kích thước còn lại cao 118cm, rộng 52cm, dày 12cm, đặt trên bệ đá khối hộp  chữ nhật vuông dài 89cm, rộng 46cm.
Bia đá chùa Non Đông

Viền khối tạc hoa văn cánh sen khắc nổi mập tròn. Trấn bia vỡ, một bên trang trí hình chim Phượng. Lòng bia khắc chữ khá rõ. 01 tấm bia  niên hiệu Tự Đức, Khối chữ nhật mỏng, để trơn không trang trí. Nội dung bia nói về hành trạng sư chù trì chùa - Tổ Cua. 01 chân tảng đá vuông vức, kích thước lớn.Hai Bảo tháp đá ba tầng thu nhỏ gọn vút cao, các tầng cân đối hài hòa vững chãi. Tháp có niên đại vào thế kỷ XVII - XVIII.
Hai tháp Mộ chùa Non Đông
 Dựa vào di vật còn lại cho thấy chùa là địa điểm thiêng, được hưng công nhiều lần. Lần hưng công có quy mô lớn nhất có thể vào thời thiền phái Tào Động chù trì.
4. Phế tích kiến trúc.
Phế tích nằm không xa chùa Non Đông, ven sườn một quả đòi thấp. Khảo sát địa hình cho thấy tại đây còn dấu vết nền kiến trúc không rộng được kè đá vững chắc. Hạt nhân của kiến trúc hiện còn hai ngôi mộ, trong đó có tháp mộ quy mô không lớn. Di vật liên quan đến tháp mộ còn một phiến đá hình chữ nhật khá dày, được chế tác cẩn thận, hai mặt mài nhẵn có viết về hành trạng sự nghiệp của sư trù trì chùa vào thế kỷ XVIII. Kich thước phiến đá:
Kè đá mặt bằng kiến trúc
Di vật ghi hành trạng
Dài 1,08m, rộng 0,435m, dày 0,22m
5 Chùa Nhẫm Dương (Thánh Quang)
Chùa Nhẫm Dương nằm trên vùng đất phẳng, dưỡi chân dãy núi Nhãm Dương. Đây là dãy núi đá vôi có phong cảnh đẹp, hữu tình trên vùng đất. Do kiến tạo địa chất, qua năm tháng can thiệp của tự nhiên nhiều hang động trong dãy núi được hình thành tạo nên những kỳ quan. Theo tài liệu cho biết Sư tổ thiền phái Tào Động hóa trong hang núi tại đây. Chùa được lưu giữ một phần linh cốt nên nơi đây được thiền phái coi là chốn Tổ Đình. Chùa Nhiễm Dương, do năm tháng cùng biến động xã hội, kiến trúc xưa không còn. Trên địa điểm cũ, chùa được dựng lại. Những dấu tích còn lại ngoài hang thánh tích xưa nơi hóa của Tổ Thiền, những di vật chùa xưa còn lại : 01 chân tảng  khối hộp vuông dá xanh, mặt trang trí cánh sen, kích thước 0,55m x 0,55m
Chân tảng
Trán bia thời Nguyễn
 04 bia đá cùng một tháp Mộ, trong đó bia Thánh Quang thiền tự dựng năm Tự Đức thứ 12 được trang trí đẹp, đề tài lưỡng long  (hóa lá) chầu nguyệt được chạm khắc sắc sảo điển hình cho nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn ở phía Bắc.
III. Sự đóng góp của thiền phái Tào Động vào văn hóa dân tộc thế kỷ XVII - XVIII.
  Phật giáo có mặt ở Việt Nam khá sớm từ những năm đầu công nguyên. Vào thời điểm thiền phái Tào Động có mặt ở Việt Nam, phật giáo đã đứng chân trên dải đất gần hai ngàn năm với nhiều dòng thiền lớn ảnh hưởng sâu rộng: Vô ngôn thông, Tỳ ni đa lưu chi.... hay những thiền phái được người Việt sáng lập như Thảo Đường, Trúc Lâm. Đặc biệt là thiền phái Trúc Lâm do Vua Trần Nhân Tông sáng lập với 3 vị tổ ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam với các trung tâm Yên Tử, Quỳnh Lâm, Côn Sơn.
Vị thế của Phật giáo sa sút vào thế kỷ XV khi ý thức hệ nho giáo thắng thế trong nhà nước quân chủ thời Lê. Sự biến động của xã hội, sự tranh chấp quyền lực của các tập đoàn phong kiến Nam - Bắc triều (Mạc - Lê Trịnh); Đàng trong - Đàng ngoài (Lê Trịnh - Nguyễn) sau hơn trăm năm loạn lạc khiến ý thức hệ nho giáo khủng hoảng. Tầng lớp nho sĩ ngả nghiêng, xã hội biến loạn người dân  có xu hướng quay về nương náu tinh thần nơi cửa phật. Vào thế kỷ XVII khi xã hội dần tương đối ổn định, phật giáo từng bước dần phục hưng. Kế thừa những dòng thiền truyền thống cùng với sự hồi sinh của thiền phái Trúc Lâm thì xuất hiện nhiều dòng thiền khác như Lâm Tế, Liên Tông  Tào Động. Sự xuất hiện thiền phái Tào Động trong điều kiện sự nở rộ của các thiền phái cho thấy thiền phái này có vị thế riêng bởi những đóng góp vào hệ tư tưởng dân tộc.
 Khảo sát các di tích chùa thuộc thiền phái Tào Động với trung tâm là tổ đình Nhẫm Dương bước đầu cho thấy:
- Cơ sở tu hành của thiền phái vốn có từ những cơ sở phật giáo cũ được Tào Động dương danh trở lại nhưng mang nội dung mới. Nằm trên địa bàn vòng cung Đông Triều, các chùa của Tào Động vốn kế thừa các cơ sở của thiền phái Trúc Lâm. Sự có mặt của sư tổ tại các di tích Côn Sơn, Yên Tử... những trung tâm của Trúc Lâm xưa cho thấy khi hoằng dương ông đã chọn một dòng thiền của dân tộc để dương danh. Chính vì thế các chùa thuộc phái Tào Động có liên quan mật thiết nằm  tập trung ở vùng đất Đông Triều  và Nhẫm Dương - Hạ Long được chọn làm nơi tu hành, chứa linh cốt và trở thành Tổ Đình của thiền phái.
-  Những cơ sở vật chất của Tào Động giai đoạn đầu chủ yếu xuất hiện tại những vùng núi do điều kiện lịch sử, đời Vĩnh Trị (1678- 1680) vua Lê Hy Tông ra lệnh cho các quan trong cả nước bất cứ ở đâu Tăng ni hoặc già hoặc trẻ đều đuổi hết về nơi rừng núi. Cho nên các di tích biết đến đều  được xây dựng trên các vùng địa hình này.Do Tào Động xuất hiện muộn, chưa có bề dày năm tháng so với các thiền phái khác, lại không được bảo trợ của chính quyền nên cơ sở vật chất thường quy mô không lớn, mang tính chất cộng đồng nhỏ.
- Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII thiền phái Tào Động được phát huy bởi công của vị Tổ thứ 2 là Thiền sư Tông Diễn. Ông là người nhận thức Phật giáo chỉ phát triển được khi có sự ủng hộ của chính quyền và ông đã tìm cách đưa tinh thần phật giáo Tào Động về kinh đô. Người đã lấy tinh thần của dòng phật giáo Tào Động thuyết pháp nội dung: Dòng Tào Ðộng chủ trương Vị quân thần. Có vua là vì có bầy tôi, có bầy tôi là vì có vua." Phép vua chính cùng phép Phật gắn liền như thịt với da". Tinh thần này phần nào giải quyết cho sự khủng hoảng của tinh thần nho giáo, ủng hộ tinh thần trung Quân, nâng cao vị thế của nhà vua nên được sự ủng hộ của chính quyền. Điều kiện đã cho phép phái Tào Động phát triển trên hai địa bàn, nơi đứng chân đầu tiên (Hạ Long - Nhẫm Dương nơi vị tổ thứ nhất trù trì) và nơi trung tâm đất nước
( Kinh đô Thăng Long). Tại nơi khởi nguồn với Hạ Long - Nhẫm Dương làm trung tâm, phái Tào Động hòa cùng các thiền phái khác dương danh đạo Phật, biến vùng đất Đông Triều thành một trung tâm Phật giáo lớn vào thế kỷ XVII - XVIII mà vào thế kỷ XVII, Nguyễn Dữ đã nhận xét  ở Đông Triều chùa “… dựng nhan nhản khắp nơi, những người cắt tóc làm tăng ni nhiều bằng nửa số dân thường…”.
Tại Thăng Long thiền sư Tông Diễn đã cho khắc bản in kinh Hoa Nghiêm ở chùa Báo Thiên, khắc bản in kinh Pháp Hoa để ở chùa Khán Sơn. Tu sửa chùa Hòa Nhai (Hồng Phúc) làm nơi trù trì, mở nhiều cơ sở của thiền phái nhiều nơi làm nên hệ thống chùa của  phái Tào Động trên vùng đất Thăng Long và phụ cận " kế tục quá khứ, mở rộng tương lai, chốn tùng lâm Hồng Phúc lại chấn hưng; đèn Thiền lại ngời ánh lửa. dòng phái Tào Khê mãi mãi dài lâu. Phong trào tôn giáo lại dâng cao, cùng núi Nùng sông Nhị muôn đời tồn tại"4. Thiền phái Tào Động phát huy rầm rộ vào đầu thế kỷ XVIII và cho đến sau này. Theo văn bia chùa Hồng Phúc cho biết, thiền phái Tào Động khi khắc bia( 1932) được truyền đến  đời thư 47, tức là được 12 đời của thiền phái Tào Động ở Việt Nam.
Sự có mặt của thiền phái Tào Động và sự truyền bá tinh thần Phật giáo trong đời sống xã hội lúc đó đã tạo nên, củng cố ý thức hệ tinh thần dân tộc. Đề cao vai trò của nhà vua là đề cao tính dân tộc " trung quân ái quốc". Tạo nên sự ổn định của xã hội làm nền cho sự phát triển kinh tế văn hóa. Sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền quản lý xã hội với phật giáo  đã đưa phật giáo nhập thế xã hội, tăng cường sự đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh cho dân tộc. Đó là những đóng góp về tinh thần của thiền phái Tào Động.
Được sự bảo trợ của chính quyền với hai bình tuyến phát triển tại vùng đất Tổ và kinh đô, thiền phái Tào Động đã xây dựng nên hệ thống cơ sở vật chất khá phong phú trong hệ thống chùa tháp Việt Nam. Với hai vùng được xây dựng trong lịch sử, vùng đất Thăng Long cho đến nay còn duy trì khá nhiều di tích cần được điều tra khảo sát tường tận hơn, khẳng định những giá trị lịch sử, đóng góp của dòng Tào Động vào văn hóa Thăng Long trong một thời kỳ lịch sử. Vùng đất Tổ đình Nhẫm Dương cho đến nay nhiều cơ sở vật chất không còn, nhưng dấu tích để lại cho thấy quy mô dù khiêm tốn nhưng đã góp phần khẳng định những giá trị tinh thần và vật chất đóng góp chung vào văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc. Tại đây cần có kế hoạch phục hồi tôn tạo các di tích trên các địa danh, dấu tích  hiện còn góp phần xây dựng tinh thần Phật giáo trong đời sống văn hóa mới dân tộc: nhân hòa - bác ái, độc lập trên vùng đất địa đầu Đông Bắc của tổ quốc./.


(1- 4) Tuyển tập văn bia Hà Nội' Quyển I: Các vị sư tổ phái Tào Động. NXB KHXH. Hà Nội 1978, tr  118.
(2) Thích Thanh Tứ: Thiền Sư Việt Nam. Thành Hội Phật giáo TP HCM. 1995
(3) Về hành trạng của Tổ Thủy Nguyệt có thể tham khảo:
- Thích Thanh Tứ: Thiền Sư Việt Nam. Thành Hội Phật giáo TP HCM. 1995
- Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận. Nxb Văn học. Hà Nội 2000
- Nguyễn Duy Hinh: Lịch sử đạo Phật Việt Nam. Nxb Tôn giáo - Từ điển bách khoa. Hà Nội 2009.
- Sa môn Như Sơn: Thiền Uyển kế đăng lục. Nxb Hồng Đức.Hà Nội 2015
 - Nguyễn Đại Đồng: Phật giáo Việt Nam( từ khởi nguyên đến năm 1981). Nxb Văn học . Hà Nội 2012