Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Sao gọi Dòng sông nghiêng?

                   Quê tôi nằm ven bờ sông Đuống, con sông hiền hòa đỏ nặng phù sa, nối thông sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình góp phần tạo nên diện mạo đồng bằng bắc Bộ.Tuổi thơ tôi đã tắm mát trên sông, thấm đậm điệu hát trống quân hay làn điệu quan họ à ơi ngày lễ hội. Dòng sông này đã hòa máu của dòng họ tôi trong những ngày kháng chiến cho đến bây giờ vẫn day dứt không nguôi.
Sông Đuống trôi đi, một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
                                                  ( Hoàng Cầm)
Chính vì thế tôi đặt tên Blogger  là Dòng sông nghiêng để nhớ về nơi chôn rau cắt rốn, nơi tuổi thơ chuyển tải những ước mơ cùng những cuộc sống nhạt nhòa vắt qua hai thế kỷ.Dòng sông vẫn còn đây nghiêng nghiêng dòng chảy, nghiêng nghiêng cánh diều bay lượn ven sông, nghiêng nghiêng những số phận lặn lội thân cò, lãng mạn nhưng đầy cam go thử thách. Dòng sông nghiêng bắt đầu đời sống riêng của mình gửi đến những ai quan tâm cùng chiêm nghiệm.



VĂN HÓA CHAMPA – CỘI NGUỒN
VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ VĂN HÓA ẤN ĐỘ
                                                                                  Lê Đình Phụng ( Viện KCH)
I. Cội nguồn và những ảnh hưởng văn hóa.           
Văn hóa Champa là một nền văn hóa lớn, độc đáo mang đậm bản sắc tộc người, tồn tại  và phát triển theo suốt chiều dài lịch sử dải đất miền Trung. Nằm trên địa bàn, kế thừa cội nguồn từ văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Champa kế thừ nhiều yếu tố truyền thống từ văn hóa Sa Huỳnh đi lên hội nhập nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài đưa lại hình thành nên nền văn hóa Champa trong lịch sử. Những tài liệu khảo cổ cho biết bằng con đường giao thương trên biển ngay buổi đầu lịch sử người Sa Huỳnh -Chăm đã tiếp thu với nhiều nền văn hóa từ bên ngoài đưa lại.
-Với văn minh Trung Hoa, tài liệu khảo cổ học tìm được qua các cuộc khai quật di chỉ cư trú , mộ chum cho biết khá nhiều đồ gốm ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đó là gốm in văn ô vuông , trám lồng thấy được qua các di chỉ Suối Trình , Xóm ốc ( Đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi); Trà Kiệu, Gò Cấm ( Quảng Nam). Tại các mộ chum ở Hậu Xá (Quảng Nam) có các đồng tiền Ngũ Thù Tây Hán ( niên đại 206BC – 25AD), tiền Vương Mãng( niên đại 8 – 23AD) hay công cụ vũ khí bằng sắt thời Tây Hán( dao sắt chuôi hình vành khăn.). Đặc biệt hơn tại mộ chum Bình Yên – Quế sơn ( Quảng Nam) ngoài đồ gốm, công cụ sắt còn có gương đồng thời Tây Hán. Gương có đường kính 6,8cm, sau gương có hàng chữ Hán cổ “ Kiến nhật chi quang ; thiên hạ đại minh”; niên đại vào nửa cuối thế kỷ I trước công nguyên, minh chứng cho sự tiếp xúc văn hoá Sa huỳnh và văn hoá Hán và  cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa trung Hoa đậm nét trong nền văn hóa bản địa.(1)
- Cùng với văn hóa Trung Hoa theo con đường giao thương trên biển văn hóa Ấn Độ cũng xuất hiện sớm trên vùng đât bán đảo Đông Dương trong đó có Việt Nam.  Với văn hoá Ấn Độ, những tiếp xúc buổi đầu với văn hoá Sa huỳnh thể hiện qua những hiện vật đồ trang sức bằng thuỷ tinh, đá ngọc, mã não  có khá
(1) Tham khảo thêm Lê Đình Phụng: Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp Champa. NXB Văn hóa – Viện Văn hóa. Hà Nội 2006
nhiều trong các mộ chum . Đặc biệt tại cuộc khai quật tại Trà Kiệu năm 1992 đã tìm thấy một mảnh gốm màu xám sẫm có hoa văn in hình tam giác đó là “ mảnh bát thuộc loại gốm thương mại trao đổi La Mã -  Ấn Độ , một loại gốm phổ biến ở các di chỉ như Arikamedu miền Đông Ấn Độ, có niên đại giữa vào giữa thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ I sau công nguyên ”(1). Trong thời kỳ lịch sử,  những tài liệu  ghi chép cùng những bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ khá rộng trên nhiều vùng văn hóa. Sự xuất hiện của người Hồ bên cạnh Sĩ Nhiếp thái thú Giao Châu, hay sự có mặt của Thiền Sư Khâu Đà la tại Luy Lâu cùng sự hiện hiện của Thạch Quang Phật đã nói lên vùng ảnh hưởng sớm của văn hóa Ấn Độ vào bắc Việt Nam. Những dấu chân thần – biểu tượng Phật tại Hương ấn( Bình Thuận ); núi Đại Điếm, hòn San hô ( Bình Định); cửa Sa Kỳ ( Quảng Ngãi) đã cho thấy Văn hóa Ấn Độ sớm xuất hiện trên dải đất miền Trung.  Đây có thể coi là những tài liệu nói về lớp văn hóa đầu tiên của cư dân bản địa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ.
Do điều kiện lịch sử,  mặc dù lớp văn hoá, tôn giáo Ấn Độ đầu tiên truyền vào nước ta có mặt trờn nhiều vùng, nhưng do điều kiện xã hội, vùng phía Bắc chịu sự cai trị, áp đặt của nền văn hoá Trung Hoa nên khó có điều kiện phát triển. Vùng đất phía Nam trong điều kiện độc lập,  khi tiếp thu văn hoá Ấn Độ đã đứng chân và phát triển hoà cùng văn hoá bản địa tạo nên nền văn hoá  Chămpa và phát triển rực rỡ theo suốt chiều dài lịch sử đến khi nền văn hóa này hội nhập vào dòng chảy chung văn hóa dân tộc.
- Văn hoá Champa khi giành được độc lập vào cuối  thế kỷ II( năm 192), hỡnh thành nờn nhà nước cổ đại Lâm Ấp( Lin Y), văn hoá , tôn giáo Ấn Độ có điều kiện từng bước thâm nhập một cách hoà bình vào cộng đồng cư dân Chăm và từng bước chi phối đời sống chính trị tôn giáo của dân tộc này. “ Dân tộc Chàm đồng hoá nhanh với nền văn minh ấy; họ theo tôn giáo và phong tục, chữ
(1)Ian Glover- Mariko Yamagata: Nguån gèc vÒ v¨n minh Cham: c¸c yÕu tè b¶n ®Þa, c¸c ¶nh h­ëng cña Trung Quèc ,Ên §é vµo miÒn Trung ViÖt Nam qua kÕt qu¶ khai quËt Trµ KiÖu ( Duy Xuyªn – Qu¶ng Nam).T/C KCH sè 3 – 1995
viết và tư tưởng; hành chính và pháp luật của nền văn minh ấy ”. Kế thừa tầng nền của văn hoá Sa huỳnh, trước khi Ấn Độ giaó đứng chân ở đây, người Chăm đã  thừa hưởng và có những yếu tố  đặc trưng từ nền văn hoá Sa huỳnh như : nghề trồng lúa nước khá phát triển; nghệ thủ công chế tạo đồ gốm, rèn sắt, dệt vải, chế tác đồ trang sức; khai thác biển; khai thác rừng; tổ chức hành chính xã hội khá cao( có thể đã xuất hiện tổ chức nhà nước sơ khai?); tín ngưỡng thờ đa thần giáo( vạn vật hữu linh), thờ tổ tiên, phong tục chôn cất hoả táng (?)  gia đình mẫu hệ ( thờ Mẹ xứ xở) hay song hệ(?).Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa, người Chăm đã tiếp thu tự nguyện tinh thần của  văn hoá Ấn Độ bởi họ gặp trong đó tư tưởng, tôn giáo của nền văn hoá này có nhiều nét tương đồng. Định cư trên dải đất hẹp miền Trung, đứng trước tự nhiên hùng vĩ, phía Đông là biển bao la; phía Tây là núi rừng cao trùng điệp, người Chăm được hưởng sự ưu đãi của tự nhiên, khai thác rừng và biển nhưng họ cũng chứng kiến sự tàn phá khốc liệt của tự nhiên mà họ cho rằng đó ẩn chứa sức mạnh vô hình của đáng tối cao : tàn phá và sinh sôi nảy nở. Là cư dân nông nghiệp họ cảm nhận được nguồn sống do đất đai đưa lại nuôi dưỡng con người, trong đó nước là nguồn sống cho vạn vật. Chính vì thế biểu tượng của các vị thần Ấn Độ giáo thể hiện vũ trụ ; trời đất như Trời cha( Đyaus) Trời Mẹ( Aditi); đất mẹ( Prithivi); thần Biển( Varuna) đều gần gũi thân thuộc với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống. Các hiện tượng tự nhiên  biểu hiện thông qua hình ảnh của các thần như :thần mưa, sấm sét( Inđra); thần Mặt Trời( Surya); thần Lửa( Agni); thần Gió(Vayu); thần Rượi hay thần Mặt trăng( Soma); hiện tượng Bình minh hay Hoàng hôn( Asuin) là những hiện tượng chi phối hiển hiện thường nhật  trong đời sống của họ. Bên cạnh đó hình tượng hoá thân của các vị thần như  hoá Cá( Matsya); Rùa ( Kurma); Lợn Rừng ( Varaha); Sư tử ( Narasimha)… không xa lạ gì với họ. Cao hơn cả là hệ thống biểu tượng thần Brahma; Visnu; Siva(Trimurti) của Ấn Độ giáo thể hiện sự Sáng tạo – Bảo tồn- Phá huỷ, chu kỳ của tự nhiên, nguồn sống của vạn vật vũ trụ cũng không hề xa lạ với đời sống của họ trước tự nhiên.Bên cạnh đó sự sống động nội dung hàm chứa tinh thần nhân văn của những bộ sử thi Mahabharata; Ramayana và các pho thần tích Purana đã lôi cuốn đời sống tâm linh của cư dân Chăm cổ. Điều quan trọng hơn là tinh thần Ấn Độ trong việc tổ chức một thiết chế xã hội mới, một xã hội trật tự , phát triển, chế độ đẳng cấp được người Chăm, đặc biệt là tầng lớp trên sử dụng để tổ chức một thiết chế xã hội mới có quy mô, tổ chức cao hơn sau khi giành được độc lập. Chính những điều kiện trên đã đưa tinh thần Ấn Độ  vào xã hội Champa và được cư dân ở đây chấp nhận coi đó là mô hình đi lên của dân tộc mình trong lịch sử. Tinh thần đó đã chi phối dân tộc Chăm xây dựng nên nền văn hoá Champa thấm đậm  tư tưởng, tôn giáo Ấn Độ trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc mình.“ Những yếu tố bản địa xa xưa đã tạo nên nền tảng vững chắc của khu vực. Nền nông nghiệp trồng lúa nước với khí hậu gió mùa đẫm nước, chế độ gia đình thiên về mẫu hệ hay song hệ, tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên và thần đất gần gũi thân thiết là những nét sống tự nhiên của họ ”(1), đó là những tiền đề tạo điều kiện cho văn hoá Ấn Độ gia nhập đứng chân trên vùng đất.Theo những nguồn tài liệu cho biết văn hoá Ấn Độ đã có sự tiếp xúc đến vùng Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng từ những thế kỷ đầu công nguyên: “Vào khoảng nửa đầu thế kỷ I sau công nguyên chắc chắn đã có cuộc tiếp xúc giữa những người mang văn hóa Ấn Độ với những người dân bản địa 3 vùng Bắc - Trung - Nam nước ta lúc bấy giờ… Nhiều tu sĩ đã đến tu và truyền giáo ở nước ta, đó là cơ sở hình thành một lớp văn minh Phật giáo - Bà la môn giáo đầu tiên…”(2). Trong 5 tuyến đường biển mà văn hoá Ấn Độ vào nước ta đáng chú ý là các tuyến vào Ninh Thuận - Bình Thuận - Khánh Hoà - Phú Yên, tuyến vào Bình Định, Quảng Nam là những điểm văn hoá Ấn Độ dừng chân và phát triển thuộc địa bàn cư dân Chăm cổ hình thành nên nền văn hoá Chăm sau này. Theo các nhà nghiên cứu, hấp lực đầu tiên đến Đông Nam Á là buôn bán trao đổi thương mại, nhất là tìm kiếm vàng chứ chưa phải là truyền giáo, “Hấp lực kinh tế mà chủ yếu là vàng đã đưa người Ấn Độ đến Đông Nam Á”.
(1)Tham kh¶o thªm Cao Xu©n Phæ:  Nh÷ng ¶nh h­ëng v¨n ho¸ n §é vµo ViÖt Nam. Gi¸o tr×nh ®µo t¹o sau ®¹i häc chuyªn ngµnh KCH. Hµ Néi 1996. T­ liÖu ViÖnKCH
(2) Nguyễn Duy Hinh:: §Òn ®éc c­íc dÊu ch©n ThÇn – biÓu t­îng phËt.T/C KCH sè 1- 2/1988
Khi vượt biển đi xa buôn bán với những chặng đường đầy hiểm nguy họ thường mang các Phật tử, sư tăng, thầy tu, thầy Bà la môn đi theo để cầu cho sự bình yên. Thế là cùng với buôn bán, văn hoá Ấn Độ cùng những giáo lý tôn giáo cũng có điều kiện lan toả. Trong những tôn giáo từ Ấn Độ tỏa ra có thể thấy có hai dòng: Ấn Độ giáo hay Bà la môn giáo và đạo Phật.
Do  hội nhập bằng phương thức hoà bình, có nhiều nét cội nguồn tương đồng văn hoá, Ấn Độ giáo hoà nhập nhanh với tín ngưỡng địa phương có điều kiện phát triển và chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của người Chăm theo suốt chiều dài lịch sử. Để xây dựng được nền văn hoá có giá trị vĩnh hằng ấy, người Chăm đã dựa trên cơ sở tầng nền của nền văn hoá bản địa, tiếp thu , chọn lọc ảnh hưởng của các nền văn hoá bên ngoài để tạo nên bản sắc văn hoá riêng.
II Những nội dung và biểu tượng ảnh hưởng của Ấn Độ giáo.
 Tài liệu khảo cổ học để lại sớm nhất cho thấy giai đoạn đầu Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần Champa. Những tượng phật  tìm được tại Cao Lao hạ(Quảng Bình) hay văn bia Võ Cạnh( Khánh Hoà)“được viết bằng tiếng Phạm đúng cách cho ta thấy rằng họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Ấn Độ…người soạn bia đã để lộ rõ sự tín ngưỡng rõ rệt vào đạo Phật với những câu đối với chúng sinh..hãy uống như người ta uống nước Cam lồ… lời nói đầy nhân hậu với chúng sinh...”(1) .Bia có niên đại khoảng thế kỷ II đến thế kỷ IV.
 Nhưng chi phối chính trong đời sống tinh thần của người Chăm là Ấn Độ giáo, có thể thấy nội dung và tinh thần thể hiện trên các tài liệu :
1. Tự dạng trên các nguồn gốc văn bia.
Trong những văn bia tìm thấy có niên đại sớm nhất vào thế kỷ IV – V ( bia Mỹ Sơn I, bia Hòn Cục, Chiêm Sơn ( Quảng Nam); bia Chợ Dinh( Phú Yên) là những tự dạng chữ đầu vuông. Nội dung văn bia có nhắc đến tên các vị thần của  (1) Tham kh¶o thªm:
- L Finot: Bia Vâ C¹nh ( Kh¸nh Hoµ) BEFEO TËp XV.Tr 2 – 3.
- Lª Träng Kh¸nh: Bia Vâ C¹nh ( Kh¸nh Hoµ).NPHMVKCH.Hµ Néi 1993; tr 304
Ấn Độ giáo như Thần Anhi(Thần Lửa) hay một dạng của thần Shiva(Bhađrêxvaraxvamin). người dựng bia là Đại Vương(Maharaja) hay vua Bhađravarman I.Tài liệu lịch sử nói về  đầu thế kỷ IV vua Lâm ấp ( Lin-Yi) Phạm Văn năm 340  cử sứ bộ sang cống nhà Tấn ngoài voi thuần dưỡng còn có bức thư viết bằng chữ Hồ ( tức chữ  Ấn Độ cổ) .
Ảnh hưởng tự dạng của Ấn Độ kéo dài cho đến thế kỷ IX, người Chăm mới sáng tạo ra chữ Chăm cổ. Về nội dung văn bản các văn bia đều thể hiện rõ nội dung về tôn giáo Ấn Độ tên các vị thần, vị vua được thần hóa, chế độ đẳng cấp vv... Văn bia đã cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa tôn giáo của Ấn Độ đến cộng đồng cư dân Chăm trên mọi vùng lãnh thổ.
Bia Hòn Cục và bia Chợ Dinh
2. Những biểu tượng tôn giáo trong điêu khắc.
Điêu khắc đá Champa cho đến nay được biết chủ yếu có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc tôn giáo( đền – tháp thờ). Những tác phẩm điêu khắc thể hiện trên hai hình thức: điêu khắc đá thể hiện trên bệ thờ, tượng thờ và điêu khắc đá thể hiện  là các thành phần kiến trúc. Điêu khắc đá tượng thờ, bệ thờ được thể hiện độc lập, là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh: bệ thờ hoàn chỉnh thờ trong lòng tháp, tượng thờ thường là khối tượng tròn là các vị thần hoặc vật linh. Điêu khắc đá là thành phần kiến trúc gồm nhiều loại hình khác nhau, đảm nhận vị trí, công năng khác nhau trong kiến trúc nên các đề tài thể hiện khác nhau phù hợp với tổng thể kiến trúc như: bậc cửa tháp, lan can, cột cửa, mi cửa, TyPam( trang trí vòm cửa), trang trí các vòm cửa tầng tháp, đá trang trí điểm góc vv.. thường được thể hiện dưới dạng phù điêu. Mặc dù các tác phẩm điêu khắc đá  có vai trò, vị trí khác nhau nhưng nội dung thể hiện khá thống nhất đó là hình ảnh liên quan đến các vị thần Ấn Độ giáo. Những hình ảnh này có mặt trên cả hai thể loại : tượng tròn và phù điêu có mặt theo suốt chiều dài lịch sử các công trình kiến trúc tôn giáo Champa.
2.1     Các vị thần Ấn Độ giáo.
 Trong hệ thống thần linh vô cùng phong phú đa dạng của văn hóa Ấn Độ, dựa vào truyền thống văn hóa bản địa, yếu tố tâm lý dân tộc, môi trường cư trú, người dân Chăm đã tiếp thu  và thể hiện  hình ảnh khá nhiều vị thần và những hình ảnh đó theo họ suốt đời sống tâm linh  dọc theo dặm dài lịch sử:
- Trước hết là hình ảnh 3 vị thần chính: Bhrama- Visnu – Shiva. Trong văn hóa Champa hình tượng thần Shiva được biểu hiện sớm nhất thể hiện qua biểu tượng Linga, đó là 7 Linga trụ tròn tìm được tại Mỹ Sơn.
Linga tại Mỹ Sơn
Những hiện vật điêu khắc đá có niên đại sớm thế kỷ VIII – IX thể hiện sự hợp nhất của hình ảnh vị thần Shiva và Visnu đó là Linga có 2 phần trụ tròn thể hiện Shiva và bát giác thể hiện Visnu như các hiện vật tại: Vân Trạch Hòa, Ưu Điềm, Mỹ Khánh ( Thừa Thiên Huế), Tuy Phước ( Bình Định);  Tuy Phong ( Bình Thuận) và Khe Thẻ ( Quảng Nam)... Những hiện vật này thường có kích thước không lớn.
Linga tại Ưu Điềm- Tuy Phước và Tuy Phong
Hiện vật điêu khắc phổ biển là hình ảnh 3 vị thần trên một biểu tượng Linga ( Tam vị nhất thể) là Linga có cấu trúc 3 phần: trụ tròn ( Shiva) Bát giác( Visnu) và vuông( Bhrama). Những hiện vật này thưởng có kích thước lớn, trang trí đẹp.
 Biểu tượng này được khắc tạc thể hiện theo nội dung của một thần thoại Ấn Độ
Linga các tháp nhóm A- E – F ở Mỹ Sơn
Ngoài những khối tượng tròn, hình ảnh 3 vị thần chính còn được thể hiện trên cùng một bức phù điêu (Ty Pam) trang trí vòm cửa ở phế tích Ưu Điềm với hình ảnh 3 vị thần chính trên cùng một tác phẩm
Phù điêu Ưu Điềm  và Mỹ Sơn E1
Tác phẩm điêu khắc có niên đại sớm vào thế kỷ VII là mi cửa tháp Mỹ Sơn E1 là hình ảnh của hai vị thần Bhrama với Visnu trong đó hình ảnh thần Bhrama giữ vai trò chủ đạo.
 Nhưng trong điêu khắc Champa vai trò của thần Shiva giữ vị trí quan trọng trong các tác phẩm điêu khắc. Sự có mặt của hình ảnh thần Shiva có mặt nhiều và xuyên suốt trong điêu khắc Champa đã được các nhà nghiên cứu cho rằng thần Shiva là vị thần chính được người Chăm thờ phụng- Shiva giáo.

Thần Shiva trong trang trí vòm cửa tháp tại Trà Liên ( Quảng Trị) và Mỹ Sơn.
Hình ảnh thần Shiva không những thể hiện trên phù điêu mà còn thể hiện dưới dạng tượng tròn khá hoàn chỉnh.Bên cạnh đó là hình ảnh các vị thần Bhrama
( thần sáng tạo), Visnu( thần bảo tồn), Skanda( thần chiến tranh),  hay các vị thần bảo trợ xã hội như thần Ganesa( phúc thần), Kubera ( thần tài lộc), Drappala( thần gác cửa)... cũng được thể hiện khá nhiều trên các công trình, tác phẩm điêu khắc.Đây được coi là các vị thần Ấn Độ giáo điển hình được người  Chăm thờ phụng, trong đó sự có mặt của thần Shiva  giữ vai trò chủ đạo.
2.2. Các vị thần tự nhiên.
Cùng với các vị thần tôn giáo, các vị thần tự nhiên có nguồn gốc Ấn Độ cũng  gia nhập vào đời sống tâm linh người Chăm và được thể hiện qua các phẩm điêu khắc như: thần Agnhi( thần lửa), Vanura( thần đại dương), Vayu ( thần gió),Surya(
Tượng thần Shi va
thần mặt trời- thần thái dương), Inđra( thần sấm sét), thần Lokapala( thần phương hướng), Parvati( thần núi),  Balarama( thần đất),Yaksa( thần rừng), Krihna( thần đồng cỏ), Yama( thần chết), Isana( đấng tự tại), Kala ( thần thời gian)..... Những vị thần này ngoài yếu tố văn hóa Ấn Độ, đây cũng là những yếu tố tự nhiên chi phối đời sống của người Chăm cho nên sự gia nhập và tồn tại của các vị thần là hằng số có mặt xuyên xuốt trong đời sống văn hóa và tôn giáo Champa trong lịch sử
2.3. Các biểu tượng Linh thú.
Song hành cùng các vị thần, mỗi vị thần linh lại có một linh thú là vật cưỡi như thần Shiva với bò Nandin; thần Bhrama với ngống Hamsa; thần Visnu với thần điểu Garuda.  Bên cạnh đó là các con vật như rắn Naga, rắn  thủy quái Makara, Giahasimha, Khỉ ( Haruman), Sư tử vv...
2.4. Các tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung sử thi hay tôn giáo.
 Cùng với hình ảnh các vị thần, điêu khắc Champa còn thể hiện  trích đoạn nội dung các s sử thi, trường ca, hay truyền thuyết cổ tích có nội dung văn hóa Ấn Độ. Có thể gặp trên các tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung về đám cưới thần Shiva, cuộc đấu trí giữa quỷ Ravana với thần Shiva trên đỉnh núi Kaisala.
Quỷ Ravana đấu trí cùng thần Shiva( Phù điêu tại Quảng Điền và Mỹ Sơn F2)
Một số tác phẩm thể hiện nội dung trường ca Ramaya như cảnh lễ cưới nàng Sita trên bệ thờ Trà Kiệu, hay diễn lại sự tích Hoàng tử Rama cứu Sita với sự trợ giúp của Hầu vương trang trí trên đế tháp Nam Khương Mỹ( Quảng Nam).
Điểm qua những đề tài điêu khắc trong văn hóa Champa, có thể thấy toàn bộ nội dung điêu khắc đều có nội dung mang ảnh hưởng từ văn hóa, tôn giáo Ấn Độ du nhập qua t¹o nªn nh÷ng trung t©m t«n gi¸o lớn chi phèi ®êi sèng tinh thÇn cña d©n téc m×nh theo suốt chiều dài lịch sử tộc người.
III. Văn hóa Champa: Dân tộc và hội nhập
Để có nền văn hóa mang đậm bản sắc tộc người, người Chăm đã kế thừa trên nền tảng văn hóa tín ngưỡng của tộc người mình được hình thành và dựng xây trong suốt tiền trình tồn tại từ thời tiền – sơ sử. Với điều kiện lịch sử cụ thể, người Chăm sớm giành được độc lập, tự chủ nên họ có điều kiện chủ động hội nhập văn hóa,   tạo điều kiện cho văn hóa tôn giáo Ấn Độ dừng chân và phát triển trên dải đất miền Trung. Văn hóa, tôn giáo Ấn Độ buổi đầu đã có mặt trên suốt dải đất hình chữ S, nhưng chỉ dừng chân và phát triển trên vùng đất người Chăm quản lý trong lịch sử.Nếu văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng đậm trong đời sống tinh thần văn hóa Việt, thì văn hóa Ấn là sợi chỉ đỏ xuyên xuốt trong đời sống tinh thần của cư dân Chăm. Mặc dù vậy, trong quá trình tiếp thu và phát triển văn hóa Champa vẫn tự khẳng định bản sắc tộc người  của mình qua các tác phẩm điêu khắc. Những phù điêu trang trí trên mi cửa tháp Mỹ Sơn E4, Chánh Lộ thể hiện cảnh sinh hoạt của triều đình Champa, hay những trang trí trên bệ thờ Đồng Dương tả những cảnh sinh hoạt triều đình, cảnh múa hát, sinh hoạt vẫn mang đậm sắc thái tộc Chăm. Sự thần hóa các vị vua, đồng nhất với thần linh Ấn Độ ( Shiva hay Bhrama) hay đưa tục thờ cúng tổ tiên vào đền thờ các thần linh đã làm nên tính Champa trong các hình ảnh vị thần hay đền thờ ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ.Có thể thấy bản chất của văn hóa Champa là truyền thống văn hóa, tín ngưỡng Chămpa được núp dưới vỏ bọc văn hóa tôn giáo Ấn Độ và ngược lại, văn hóa, tôn giáo Ấn Độ đã hội nhập và thành công trong văn hóa Champa, hình thành nên một vùng văn hóa “phi Hoa” trong tổng thể văn hóa Việt Nam trong lịch sử. Sự thành công này đã tạo nên  mối quan hệ truyền thống văn hóa giữa các tộc người sinh sống trên dải đất Việt Nam  và Ấn Độ trong lịch sử.  Mối quan hệ  trong lịch sử là nền tảng, tiền đề cho sự hợp tác và phát triển góp phần xây dựng nên mối quan hệ Việt- Ấn ngày càng gắn bó hữu nghị trong tương lại./.


 Biểu tượng Shiva gắn với hình ảnh các vị vua trong Champa tại PoKllong Gia Lai và Porome
VĂN HÓA CHAMPA
TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG VĂN HÓA
Lê Đình Phụng ( Viện Khảo cổ học)
I Không gian văn hóa Champa.         
    Trong tổng thể  nền văn hóa chung của dân tộc trong lịch sử, văn hóa Champa chiếm vị trí quan trọng, góp một sắc màu đa dạng, độc đáo trên lãnh thổ dải đất hình chữ S ven biển Đông.Sự độc đáo thể hiện bản sắc riêng của tộc người Chăm sáng tạo ra theo suốt chiều dài lịch sử từ những thế kỷ đầu công nguyên đến khi sát nhập chung vào nền văn hóa dân tộc. Vị trí quan trọng bởi nền văn hóa này tồn tại trên một không gian lớn lãnh thổ dân tộc ngày nay từ Quảng Bình đến Bình Thuận và cả những  đảo xa cùng vùng Tây nguyên rộng lớn. Có thể thấy, không gian của văn hóa Champa nằm gần trọn trong dải đất miền Trung lãnh thổ hôm nay; phía Tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ gắn với núi rừng Tây nguyên rậm rạp bao la; phía Đông là biển lớn chập trùng. Kẹp giữa núi và biển là dải đất đồng bằng nhỏ hẹp chạy dài ven biển  do các con sông có nguồn gốc từ dãy núi phía tây chảy về biển tạo thành. Do kiến tạo địa chất, không gian văn hóa Champa chia thành nhiều tiểu vùng ngăn cách bởi những dải Hoành Sơn tỏa từ dãy Trường Sơn đâm ngang xuôi ra biển theo hướng Đông – Tây tạo thành. Có thể thấy địa hình vùng đất chia làm những tiểu vùng chính: Phía Bắc  là vùng Quảng Bình – Quảng Trị - Thừa Thiên Huế được giới hạn bởi dãy núi Hoành Sơn với đèo ngang hiểm trở phân giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình ở phía Bắc. Phía Nam ngăn cách  là dải núi cao trùng điệp với đèo Hải Vân cao ngất, nơi có “đệ nhất hùng quan”.Tiếp đến là vùng đất Quảng Nam – Quảng Ngãi với phía bắc là đèo Hải Vân; phía nam ngăn cách là đèo Bình Đề với vùng đất Bình Định.Đây là vùng đất có dải đồng bằng với diện tích lớn nhất miền Trung.Nằm giữa vùng đất là địa bàn tỉnh Bình Định hiện nay với giới hạn phía Bắc là đèo Bình Đê; phía Nam là đèo Cù Mông cao ngất. Tiếp đến là vùng đất Phú yên với đèo Cù Mông phía bắc và đèo Cả hiểm trở phía nam. Vùng đất Khánh Hòa hiện nay  nằm gọn trong bồn địa với đèo Cả ngăn phía bắc  núi Tà Lương ngăn phía nam, đây là vùng đất với những dải đồng bằng hẹp chạy ven các triền sông lớn xen giữa những dải núi non hùng vĩ. Vùng đất này nổi tiếng với sản phẩm Trầm hương trong lịch sử, nên còn có tên gọi Xứ trầm Hương. Từ núi Tà Lương trở vào là dải đồng bằng cồn cát ven biển của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, ngăn cách với vùng đất Đông Nam Bộ là con sông Đồng Nai hình thành nên địa giới tự nhiên. Vùng đất này được coi là  vùng khí hậu khô hạn nhất miền Trung, đồng bằng hẹp khô hạn, cồn cát chiếm tỷ lệ cao.
 Có thể thấy, toàn bộ dải đất miền Trung, có địa hỡnh chung,phớa tõy là  khối núi Trường Sơn tiếp theo là các dải đồi thấp chiếm hầu hết diện tích, tiếp đến là “ các đồng bằng duyên hải hầu như chỉ là một đường viền nhỏ hẹp mà cuộc sống kinh tế ngay trong quá khứ cũng không tách rời khỏi khối núi vĩ đại đó” (Lê Bá Thảo- 1977). Phía đông là biển lớn, ngoài biển mỗi vùng có hệ thống đảo liên quan.
Mặc dù có tính chất chung như vậy, nhưng do sự chia cắt của địa hình, trong lịch sử mỗi vùng đất lại tồn tại như một vùng khu biệt với đầy đủ địa hình sông ngòi, đồng bằng, trung du, miền núi, nghiêng từ tây sang đông tạo nên các vùng tách biệt nhau. Mối liên hệ của các vùng chủ yếu thông qua đường biển theo trục bắc - nam, còn đường bộ ít thuận lợi để có sự qua lại mật thiết với nhau bởi sự chia cắt của những dải núi ngang sừng sững chắn chạy dài từ tây sang đông hiểm trở. Mỗi vùng có đủ mặt các loại địa hình núi, đồi, đồng bằng, sông và các vịnh biển  hình thành nên hệ thống giao thông thủy thuận lợi trong vùng và đi các vùng khác.

Địa hình mỗi tiểu vùng nhìn chung cho thấy không gian kín của mỗi vùng, nhưng có không gian mở chung ra biển. Mỗi vùng đó lại có con đường riêng gắn bó với vùng đất Tây Nguyên giàu có và rộng lớn. Ví dụ như Quảng Nam  là sông Thu Bồn, Quảng Ngãi là đường bộ đèo Violac; Phú yên là hệ thống sông Đà Rằng;  Nha Trang (Khánh Hòa) là đèo Phượng Hòang; Bình Thuận hệ thống sông Dinh vv...
Những yếu tố địa lý nêu trên trong quá trình lịch sử đã chi phối quan trọng sự hình thành và phát triển của văn hóa Champa trong lịch sử, tạo nên những vùng văn hóa đa dạng, trên nền tảng của một nền văn hóa thống nhất, kéo dài theo suốt chiều dài lịch sử tộc người Chăm


Bản đồ không gian văn hóa Champa
(Nguồn: Thống kê khảo tả các di tích... H.Parmentier 1909)
II. Di tích văn hóa Champa.
Theo các nguồn sử liệu cùng những tài liệu khai quật khảo cổ học cho biết, ngay từ những năm đầu của lịch sử, trên dải đất miền Trung đã có nhiều nhóm người Chăm cư trú trên các vùng đất khác nhau. Tài liệu ghi chép về những nhóm người Chăm phía bắc bị nhà Hán xâm lược đô hộ lập nên huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, mà sau này họ khởi nghĩa giành thắng lợi lập nên nhà nước độc lập Lâm Ấp( Lin Y) trên vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam ngày nay. Những cộng đòng người Chăm phía nam vẫn sống độc lập với tổ chức nhà nước sơ khai ban đầu. Các cuộc khai quật khảo cổ học tại Đồng Nghệ (Quảng Ngãi); Khe Ông Dầu ( Phú Yên), Hòa Diêm ( Khánh Hòa) với số lượng đồ gốm phong phú, mang đặc trưng riêng của vùng đất đã cho biết ở đây có những nhóm người Chăm cư trú khác nhau và có mối quan hệ với nhau. Bia kí Champa cũng cho biết người Chăm xưa có 2 tộc người chính là tộc Kau và tộc Dừa giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và tinh thần của người Chăm trong lịch sử
Điều kiện không gian mở với biển, điều kiện tự nhiên kinh tế nhiệt đới phong phú có giá trị đã mang lại dải đất miền Trung sức sống. Những năm đầu công nguyên  vùng đất Champa đã xuất hiện các thuyền buôn ngoại quốc đến đây bán mua trao đổi. Các gương đồng thời Hán có mặt từ Quảng Bình đến Quảng Nam đã nói lên luồng thương mại từ Bắc xuống Nam. Các mảnh gốm Ấn Độ có mặt tại Quảng Nam đã cho biết mối quan hệ buôn bán xa theo dòng từ Nam đên bắc,  dấu hiệu manh nha xuất hiện con đường  gốm sứ tơ lụa trên biển mà vùng biển Champa là nơi hội tụ. Sự giao thương là “cú hích” cộng với sự hội nhập văn hóa bản địa đã hình thành văn hóa Champa trong lịch sử và tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử.
Trước hết văn hóa Champa  có nguồn gốc là văn hóa bản địa  kết hợp với sự hội nhập của văn hóa tôn giáo Ấn Độ, trong đó yếu tố văn hóa tôn giáo Ấn Độ mang tính nổi trội.Mặc dù sớm tiếp xúc và một phần bộ phận khu vực đã từng chụi đô hộ của văn hóa Hán, nhưng người Chăm không tiếp nhận nền văn hóa này vào thành bộ phận văn hóa dân tộc. Chối từ mô hình văn hóa Hán, tiếp thu, chấp nhận mô hình văn hóa Ấn, “ Dân tộc Chàm đồng hoá nhanh với nền văn minh ấy; họ theo tôn giáo và phong tục, chữ viết và tư tưởng; hành chính và pháp luật của nền văn minh ấy ” Người Chăm theo địa hỡnh và vựng cư trú đó  tổ chức xó hội  “ Champa được chia thành 5 vùng giống như 5 công quốc: Indrapara; Amaravati; Vijaya; Kauthara và Panduranga. Các văn bia khắc đá và các văn bản khác cho thấy Champa được tổ chức theo kiểu giống quốc gia liên bang hoặc hợp bang hơn là một quốc gia quân chủ thống nhất” . “Một số công quốc có thể tương ứng với các tỉnh do tổ chức Chàm giữ lại: Amaravati; Kauthara; Vijaya; Panduranga…”
Trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa, với nền cảnh chung  là tôn giáo  có nguồn gốc Ấn Độ, trên các vùng Champa hình thành nên hệ thống  cơ sở xã hội và văn hóa  tương đồng nhau đó là hệ thống thành thị - Trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của vùng đất. Hệ thống thương cảng, nơi giao lưu buôn bán trong và ngoài vùng. Trung tâm tôn giáo: các cơ sở thờ phụng tôn giáo: tháp thờ, đền thờ.
Hệ thống di tích này nằm theo trục hướng đông – Tây, dọc theo các dòng sông lớn trong khu vực làm nên một chỉnh thể văn hóa chung. Có thể thấy hệ thống di tích này theo các dòng sông lớn tại các vùng như sau:
 Quảng Trị : Cảng Cửa Việt- Thành Thuận Châu- Trung tâm tôn giáo: Tháp Dương Lệ. theo trục sông Thạch Hãn
Thừa Thiên Huế: Cảng Tư Hiền – Thành Lồi- Trung tâm tôn giáo Văn Trạch Hòa ( Phong Điền). Theo trục  hệ thống sông Hương - Ô Lâu.
 Quảng Nam: Càng Đại Chiêm cảng – Thành Trà Kiệu – Trung tâm tôn giáo Mỹ Sơn theo trục sông Thu Bồn.
Quảng Ngãi: Cảng Sa Kỳ - Thành Châu Sa – Trung tâm tôn giáo: Chánh Lộ theo trục sông Trà Khúc.
Bình Định: Cảng Thi Nại- Thành Chà Bàn- Trung tâm tôn giáo Tháp bánh Ít. Theo trục hệ thống sông Kon – Hà Thanh
 Phú Yên: Cảng cửa sông Đà Rằng – Thành Hồ- Trung tâm tôn giáo Hòn Mốc theo trục sông Đà Rằng.
Khánh Hòa cảng cửa sông Cái- Thành (?)- Trung tâm tion giáo: Ponaga theo trục sông Cái
Ninh Thuận: Cảng Phan Rang- Thành Virapura(?)-  Trung tâm tôn giáo Hòa Lai(?) theo trục sông  Dinh.
Bình Thuận : Cảng Phan Thiết- Thành Song Lũy – Trung tâm tôn giáo (?) theo trục sông Song Lũy.
 Như vậy, bên cạnh các vùng đã tìm thấy đầy đủ dấu tích của 3 trung tâm  văn hóa Champa trên mỗi vùng đất, đặc biệt là các vùng đất định đô cũ như Quảng Nam. Bình Định, hay các vùng quan trọng như Quảng Trị, Quảng Ngãi; Phú Yên thì cũng có nhiều vùng chưa xác định rõ đủ mặt 3 trung tâm, nhưng chắc cũng nằm trong quy luật chung này. Những di tích này cho thấy tính thống nhất văn hóa của Champa trên toàn lãnh thổ, nhưng cũng cho thấy tính độc lập trong mỗi khu vực, tạo nên sự đa dạng của văn hóa trong lịch sử. Đây cũng là cơ sở vật chất để góp phần đưa ra nhận định thể chế Champa là một quốc gia liên bang gồm nhiều tiểu quốc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
III. Mô hình và mối quan hệ giữa các di tích.
1. Hệ thống thương cảng.
 Trong quá trình tồn tại phát triển, do điều kiện tự nhiên, nền kinh tế Champ khai thác rừng và khai thác biển giữ vị trí quan trọng. Sự kết hợp kinh tế rừng với kinh tế biển hình thành nên hệ thống cảng trên mỗi vùng đất. Cảng biển - sông là cầu nối giữa các vùng trong khu vực và  các quốc gia bên ngoài. Do kiến tạo của địa chất, đã hình thành hệ thống vịnh vũng ven biển ven dải đất Champa.Các con sông từ Trường Sơn đổ về các vịnh tạo nên hệ thống cảng. Cảng là nơi hội tụ sản phẩm biển ngược dòng sông lên phía Tây cung cấp cho thị trường rừng, cao nguyên. Cảng là nơi hội tụ sản phẩm rừng cung cấp cho thị trường đặc biệt là xuất khẩu.
Ai về nhắn với Nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên
Vai trò trung chuyển của Cảng đã được con người sử dụng từ lâu trong lịch sử. Các cảng biển Champa đều có nguồn gốc từ tiền cảng trong văn hóa Sa Huỳnh.Những cuộc khảo sát, thám sát khai quật khảo cổ học đã phát hiện hàng loạt các di tích văn hóa Sa Huỳnh ven các cảng tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định... đặc biệt là tại Hội An- Quảng Nam.Đến thời kỳ Champa hệ thống cảng bùng lên sức sống, hầu hết các cảng đều xuất hiện hệ thống di tích liên quan các miếu, tháp thờ. Cảng Champa ngoài chức năng hoạt động kinh tế, đây là điểm tiếp xúc văn hóa. Các thương lái nước ngoài khi đến đây buôn bán đã tạo nên điểm giao lưu vô tình hoặc có  ý về văn hóa, tín ngưỡng. Những di tích, di vật có niên đại sớm nhất trong văn hóa Champa thường gắn liền với hệ thống cảng như bia Võ Cạnh ( Nha Trang – Khánh Hòa) hay nhóm hiện vật tìm được tại Cao Lao Hạ ( Quảng Bình).Hệ thống cảng là nơi tiếp nhận sớm nhất các luồng văn hóa tín ngướng đến vùng đất. Ngoài văn hóa tôn giáo Ấn Độ, các tôn giáo khác cũng xuất hiện trên địa bàn các cảng Champa. Đạo Hồi có mặt vào thế kỷ IX tại thương cảng Đại Chiểm cảng ( Quảng Nam) với các mảnh gốm Ítsalam có màu men xanh lục sậm cooban, xương gốm trắng dày thô xốp tìm được qua khai quật di tích Cù Lao Chàm đã nói lên sự ảnh hưởng của các thương nhân Ảrập đến vùng đất. Đạo Hồi theo thương nhân đã có ảnh hưởng vào đây với các kiến trúc tháp thờ Champa khá độc đáo như tháp Bằng An( Quảng Nam) Chánh Lộ ( Quảng Ngãi). Sau này thông qua các cảng biển sự thâm nhập của đạo Hồi càng rầm rộ đặc biệt trên địa bàn Ninh – Bình Thuận tạo nên tầng lớp Chăm Hồi giáo trên vùng đất. Có thể nói cảng Champa là không gian mở theo suốt chiều dài lịch sử để người Chăm giao lưu, tiếp thu ảnh hưởng nhiều luồng văn hóa từ bên ngoài đưa vào- Đó là không gian mở của văn hóa Champa trong lịch sử.
2. Hệ thống thành cổ.
Thành cổ có mặt trên hết các khu vực của người Chăm, hệ thống thành cổ này là  ngoài chức năng quân sự còn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của mỗi vùng. Với vai trò quan trọng của đường thủy, các tòa thành thường được xây dựng ven các dòng sông chính mỗi vùng đất. Thành Lồi với sông Hương ( Thừa Thiên – Huế); thành Trà Kiệu với sông Thu Bồn( Quảng Nam); thành Châu Sa với sông Trà Khúc (Quảng Ngãi); thành Chà Bàn với sông Kon( Bình Định); thành Hồ với sông Đà Rằng ( Phú Yên).... Về vị trí các thành được xây dựng chủ yếu ở phía Nam, phần hạ lưu các dòng sông, nơi tĩnh của dòng chảy với lòng sông rộng và sâu, có đủ lượng nước để tàu thuyền vào ra từ cảng thị lên các tòa thành thuận lợi cả về mùa mưa và mùa khô khi dòng sông cạn kiệt. Nghiên cứu một số tòa thành cho thấy, thành được xây dựng ở vị trí giao thoa hai nguồn nước ngọt và mặn vào mùa khô. Do cấu tạo dòng sông miền trung ngắn và dốc nên về mùa khô, lượng nước thấp, nước biển xâm thực sâu vào nội địa. Địa điểm xây các tòa thành được chọn ở địa điểm này để giao thông thủy thuận lợi cả vào mùa khô dựa vào nước biển. Vị trí này thể hiện rõ nhất khi nghiên cứu thành Lồi trên hệ thống sông Hương( Thừa Thiên – Huế). Theo tài liệu lịch sử cho biết các tòa thành tường thường được xây bằng gạch, quy mô to lớn với nhiều công trình kiến trúc bên trong.Thành Điển Xung( Simhapura- Trà Kiệu) kinh đô Lâm Ấp “ thành xây bằng gạch, cao hai trượng, ở trên xây bức tường gạch cao một trượng, có đục những lỗ vuông. Trên gạch thì lát ván, trên ván làm gác, trên gác có mái.Ở trên mái lại dựng lầu, cái lầu cao là 6- 7 trượng, thấp là 4 –5 trượng… Trong thành có thành nhỏ chu vi là 30 bộ. Cung tranh điện ngói không mở cửa về hướng .nam; nhà dài ở hai đầu, nóc theo chiều nam bắc… Điện mở cửa hướng đông, nào mái bay con giống, nào cửa xanh thềm đỏ, nào xà dài dui vuông,phần nhiều làm theo lối cổ. Cột ở gác, điện cao hơn thành một trượng rưỡi. Tường trát phân trâu, màu sắc xanh nhoáng. Nhà nách chạy quanh…Nhà có hơn 50 khu liền hồi liền nóc, thềm mái tiếp nhau. Đền thần tháp quý lớn nhỏ 8 miếu; dài nhiều tầng, bình tựa tháp phật….”; “ Cung vua Chàm thì rộng, cao, lợp ngói có hoa văn, có tường đất bao quanh. Hoàng cung được quét vôi ” . Các cuộc điều tra khảo sát, khai quật khảo cổ học các tòa thành cho thấy,quy mô thành to lớn, được xây dựng quy chỉnh thường có hình chữ nhật nằm dọc theo dòng chảy con sông, các góc thành bắt góc vuông vức.  Tường thành được đắp đất cao vững chắc, bên ngoài dốc đứng, bên trong xoải xuôi, trong thành thường có các tường ngăn phân thành các khu khác nhau. Khai quật trong lòng thành tại các thành Trà Kiệu. thành Trà ( Bình Định); thành Hồ ( Phú Yên)cho thấy ở đây có hai loại hình kiến trúc, kiến trúc cung điện có mặt bằng kiến trúc hình chữ nhật, quy mô lớn dài, với dấu vết móng còn lại cùng vật liệu xây dựng như gạch, ngói ống, ngói âm dương, đầu ngói ống mặt hề, ngói mũi lá.... Kiến trúc tôn giáo có mặt bằng hình vuông, hệ thống tượng thờ, bệ thờ nằm trong kiến trúc. Với không gian vùng đất không rộng, tính biệt lập cao thành ở đây có chức năng là trung tâm hành chính văn hóa giữ vai trò chủ đạo, chức năng quân sự giữ vai trò thứ yếu. Do đặc thù của các tòa thành có vai trò kinh đô trong lịch sử,  trong thành còn có các công trình kiến trúc tôn giáo. Cuộc khai quật năm 1927 tại Trà Kiệu đã phát hiện nhóm kiến trúc tháp bị sụp đổ với nhiều hiện vật điêu khắc có giá trị như Bệ thờ Trà Kiệu, các tượng thờ vv.. Cuộc khai quật thành Trà ( Bình Định) tìm tháy trong lòng thành ngôi đền thờ với nhiều tượng đất nung có giá trị  nghệ thuật.
 3. Hệ thống trung tâm tôn giáo.
Trung tâm tôn giáo là nhóm di tích không thể thiếu được trong mỗi vùng đất. Những địa điểm này thường gắn bó chặt chẽ với các tòa thành. Những trung tâm tôn giáo ấy có vai trò là “ Thánh Địa” trên vùng đất cố đô như Mỹ Sơn ( Quảng Nam) hay trung tâm tôn giáo của vương triều như Bánh Ít ( Bình Định); Ponaga ( Khánh Hòa); hay có thể là trung tâm tôn giáo của chính quyền quản lý vùng đất ấy như Chánh Lộ ( Quảng Ngãi); Hòn Mốc ( Phú Yên); PoKloong Giarai ( Ninh Thuận) vv...Vị trí xây dựng thường nằm phía trên thượng nguồn dòng sông, nơi định vị tòa thành, hay có thể quanh tòa thành thuận lợi cho hoạt động tôn giáo của vương triều hay chính quyền. Tùy theo chức năng của các trung tâm tôn giáo này mà các di tích được xây dựng, sử dụng trong thời gian khác nhau, số lượng, quy mô khác nhau. Khu di tích Mỹ Sơn là trung tâm tôn giáo quốc gia được xây dựng và sử dụng liên tục trong lịch sử kéo dài hơn một ngàn năm với trên 70 công trình kiến trúc được xây dựng, hoặc được xây dựng lại nhiều lần như Ponaga, hay một quần thể kiến trúc tôn giáo hoàn chỉnh như BánhIt.Sự hiện diện quyền lực của tôn giáo bên cạnh quyền lực chính quyền tạo nên một nhà nước vương quyền kết hợp chặt chẽ với thần quyền là hằng số xuyên xuốt trong lịch sử xã hội Champa, taọ nên bản sắc văn hóa tộc người theo thời gian.
Như vậy, có thể thấy, trong mỗi vùng văn hóa Champa có 3 trục quay quanh nhau gồm trục kinh tế ( cảng thị); trục quản lý xã hội ( thành) và trục tinh thần ( tôn giáo) tạo nên sức sống và bản sắc văn hóa. Ba trục này có mối quan hệ khăng khít hữu cơ, thống nhất với nhau cùng vận hành, tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử tộc người Chăm.Về mô hình có thể thấy những giai đoạn sớm ba trung tâm tạo nên văn hóa Champa chạy dọc theo tuyến đông- tây theo các dòng sông từ biển lên rừng như mô hình Cảng Đại Chiêm – thành Trà Kiệu – thánh địa Mỹ Sơn ( Quảng Nam), hay cảng Cửa Đại – Thành Hồ- Trung tâm tháp Hòn Mốc ( Phú Yên)
Những giai đoạn sau, đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử, mô hình ba trung tâm này được thu gọn với cảng – thành – trung tâm tôn giáo mà thành và trung tâm tôn giáo liền kề nhau như Cảng Thi Nại – Thành Chà Bàn – Trung tâm tôn giáo Thập tháp ( trong đó Thập tháp được xây dựng sát  ngoài tường thành Chà Bàn)
Dù thời gian có thay đổi nhưng mô hình 3 trung tâm luôn tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử. Vị trí 3 mô hình có thay đổi nhưng điểm chung là 3 trung tâm đó đều lấy các dòng sông làm trục chính không gian tồn tại của mình.  Ba trung tâm là sức sống của văn hóa Champa, chính vì thế có thể nói văn hóa Champa là văn hóa sông – biển trong đó yếu tố biển nổi trội.

Trong quá trình tồn tại  và phát triển, văn hóa Champa luôn có tính thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ người Chăm quản lý. Trong không gian chung, mỗi vùng có không gian văn hóa riêng, cách thể hiện riêng độc đáo. Từ cội nguồn văn hóa, chủ nhân là một tộc người thống nhất, tín ngưỡng bản địa tương đồng, ảnh hưởng chung từ một nền văn hóa Ấn Độ, cho nên quá trình phát triển văn hóa mỗi vùng tuy có sự khác nhau nhưng đều có tính thống nhất cao, hình thành nên bản sắc văn hóa Champa trong lịch sử./.

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

VĂN HÓA CHAMPA – CỘI NGUỒN
VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ VĂN HÓA ẤN ĐỘ
                                                                                  Lê Đình Phụng ( Viện KCH)
I. Cội nguồn và những ảnh hưởng văn hóa.           
Văn hóa Champa là một nền văn hóa lớn, độc đáo mang đậm bản sắc tộc người, tồn tại  và phát triển theo suốt chiều dài lịch sử dải đất miền Trung. Nằm trên địa bàn, kế thừa cội nguồn từ văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Champa kế thừ nhiều yếu tố truyền thống từ văn hóa Sa Huỳnh đi lên hội nhập nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài đưa lại hình thành nên nền văn hóa Champa trong lịch sử. Những tài liệu khảo cổ cho biết bằng con đường giao thương trên biển ngay buổi đầu lịch sử người Sa Huỳnh -Chăm đã tiếp thu với nhiều nền văn hóa từ bên ngoài đưa lại.
-Với văn minh Trung Hoa, tài liệu khảo cổ học tìm được qua các cuộc khai quật di chỉ cư trú , mộ chum cho biết khá nhiều đồ gốm ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa đó là gốm in văn ô vuông , trám lồng thấy được qua các di chỉ Suối Trình , Xóm ốc ( Đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi); Trà Kiệu, Gò Cấm ( Quảng Nam). Tại các mộ chum ở Hậu Xá (Quảng Nam) có các đồng tiền Ngũ Thù Tây Hán ( niên đại 206BC – 25AD), tiền Vương Mãng( niên đại 8 – 23AD) hay công cụ vũ khí bằng sắt thời Tây Hán( dao sắt chuôi hình vành khăn.). Đặc biệt hơn tại mộ chum Bình Yên – Quế sơn ( Quảng Nam) ngoài đồ gốm, công cụ sắt còn có gương đồng thời Tây Hán. Gương có đường kính 6,8cm, sau gương có hàng chữ Hán cổ “ Kiến nhật chi quang ; thiên hạ đại minh”; niên đại vào nửa cuối thế kỷ I trước công nguyên, minh chứng cho sự tiếp xúc văn hoá Sa huỳnh và văn hoá Hán và  cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa trung Hoa đậm nét trong nền văn hóa bản địa.(1)
- Cùng với văn hóa Trung Hoa theo con đường giao thương trên biển văn hóa Ấn Độ cũng xuất hiện sớm trên vùng đât bán đảo Đông Dương trong đó có Việt Nam.  Với văn hoá Ấn Độ, những tiếp xúc buổi đầu với văn hoá Sa huỳnh thể hiện qua những hiện vật đồ trang sức bằng thuỷ tinh, đá ngọc, mã não  có khá
(1) Tham khảo thêm Lê Đình Phụng: Tìm hiểu lịch sử kiến trúc tháp Champa. NXB Văn hóa – Viện Văn hóa. Hà Nội 2006
nhiều trong các mộ chum . Đặc biệt tại cuộc khai quật tại Trà Kiệu năm 1992 đã tìm thấy một mảnh gốm màu xám sẫm có hoa văn in hình tam giác đó là “ mảnh bát thuộc loại gốm thương mại trao đổi La Mã -  Ấn Độ , một loại gốm phổ biến ở các di chỉ như Arikamedu miền Đông Ấn Độ, có niên đại giữa vào giữa thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ I sau công nguyên ”(1). Trong thời kỳ lịch sử,  những tài liệu  ghi chép cùng những bằng chứng cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ khá rộng trên nhiều vùng văn hóa. Sự xuất hiện của người Hồ bên cạnh Sĩ Nhiếp thái thú Giao Châu, hay sự có mặt của Thiền Sư Khâu Đà la tại Luy Lâu cùng sự hiện hiện của Thạch Quang Phật đã nói lên vùng ảnh hưởng sớm của văn hóa Ấn Độ vào bắc Việt Nam. Những dấu chân thần – biểu tượng Phật tại Hương ấn( Bình Thuận ); núi Đại Điếm, hòn San hô ( Bình Định); cửa Sa Kỳ ( Quảng Ngãi) đã cho thấy Văn hóa Ấn Độ sớm xuất hiện trên dải đất miền Trung.  Đây có thể coi là những tài liệu nói về lớp văn hóa đầu tiên của cư dân bản địa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ.
Do điều kiện lịch sử,  mặc dù lớp văn hoá, tôn giáo Ấn Độ đầu tiên truyền vào nước ta có mặt trờn nhiều vùng, nhưng do điều kiện xã hội, vùng phía Bắc chịu sự cai trị, áp đặt của nền văn hoá Trung Hoa nên khó có điều kiện phát triển. Vùng đất phía Nam trong điều kiện độc lập,  khi tiếp thu văn hoá Ấn Độ đã đứng chân và phát triển hoà cùng văn hoá bản địa tạo nên nền văn hoá  Chămpa và phát triển rực rỡ theo suốt chiều dài lịch sử đến khi nền văn hóa này hội nhập vào dòng chảy chung văn hóa dân tộc.
- Văn hoá Champa khi giành được độc lập vào cuối  thế kỷ II( năm 192), hỡnh thành nờn nhà nước cổ đại Lâm Ấp( Lin Y), văn hoá , tôn giáo Ấn Độ có điều kiện từng bước thâm nhập một cách hoà bình vào cộng đồng cư dân Chăm và từng bước chi phối đời sống chính trị tôn giáo của dân tộc này. “ Dân tộc Chàm đồng hoá nhanh với nền văn minh ấy; họ theo tôn giáo và phong tục, chữ
(1)Ian Glover- Mariko Yamagata: Nguån gèc vÒ v¨n minh Cham: c¸c yÕu tè b¶n ®Þa, c¸c ¶nh h­ëng cña Trung Quèc ,Ên §é vµo miÒn Trung ViÖt Nam qua kÕt qu¶ khai quËt Trµ KiÖu ( Duy Xuyªn – Qu¶ng Nam).T/C KCH sè 3 – 1995
viết và tư tưởng; hành chính và pháp luật của nền văn minh ấy ”. Kế thừa tầng nền của văn hoá Sa huỳnh, trước khi Ấn Độ giaó đứng chân ở đây, người Chăm đã  thừa hưởng và có những yếu tố  đặc trưng từ nền văn hoá Sa huỳnh như : nghề trồng lúa nước khá phát triển; nghệ thủ công chế tạo đồ gốm, rèn sắt, dệt vải, chế tác đồ trang sức; khai thác biển; khai thác rừng; tổ chức hành chính xã hội khá cao( có thể đã xuất hiện tổ chức nhà nước sơ khai?); tín ngưỡng thờ đa thần giáo( vạn vật hữu linh), thờ tổ tiên, phong tục chôn cất hoả táng (?)  gia đình mẫu hệ ( thờ Mẹ xứ xở) hay song hệ(?).Sau khi thoát khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa, người Chăm đã tiếp thu tự nguyện tinh thần của  văn hoá Ấn Độ bởi họ gặp trong đó tư tưởng, tôn giáo của nền văn hoá này có nhiều nét tương đồng. Định cư trên dải đất hẹp miền Trung, đứng trước tự nhiên hùng vĩ, phía Đông là biển bao la; phía Tây là núi rừng cao trùng điệp, người Chăm được hưởng sự ưu đãi của tự nhiên, khai thác rừng và biển nhưng họ cũng chứng kiến sự tàn phá khốc liệt của tự nhiên mà họ cho rằng đó ẩn chứa sức mạnh vô hình của đáng tối cao : tàn phá và sinh sôi nảy nở. Là cư dân nông nghiệp họ cảm nhận được nguồn sống do đất đai đưa lại nuôi dưỡng con người, trong đó nước là nguồn sống cho vạn vật. Chính vì thế biểu tượng của các vị thần Ấn Độ giáo thể hiện vũ trụ ; trời đất như Trời cha( Đyaus) Trời Mẹ( Aditi); đất mẹ( Prithivi); thần Biển( Varuna) đều gần gũi thân thuộc với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống. Các hiện tượng tự nhiên  biểu hiện thông qua hình ảnh của các thần như :thần mưa, sấm sét( Inđra); thần Mặt Trời( Surya); thần Lửa( Agni); thần Gió(Vayu); thần Rượi hay thần Mặt trăng( Soma); hiện tượng Bình minh hay Hoàng hôn( Asuin) là những hiện tượng chi phối hiển hiện thường nhật  trong đời sống của họ. Bên cạnh đó hình tượng hoá thân của các vị thần như  hoá Cá( Matsya); Rùa ( Kurma); Lợn Rừng ( Varaha); Sư tử ( Narasimha)… không xa lạ gì với họ. Cao hơn cả là hệ thống biểu tượng thần Brahma; Visnu; Siva(Trimurti) của Ấn Độ giáo thể hiện sự Sáng tạo – Bảo tồn- Phá huỷ, chu kỳ của tự nhiên, nguồn sống của vạn vật vũ trụ cũng không hề xa lạ với đời sống của họ trước tự nhiên.Bên cạnh đó sự sống động nội dung hàm chứa tinh thần nhân văn của những bộ sử thi Mahabharata; Ramayana và các pho thần tích Purana đã lôi cuốn đời sống tâm linh của cư dân Chăm cổ. Điều quan trọng hơn là tinh thần Ấn Độ trong việc tổ chức một thiết chế xã hội mới, một xã hội trật tự , phát triển, chế độ đẳng cấp được người Chăm, đặc biệt là tầng lớp trên sử dụng để tổ chức một thiết chế xã hội mới có quy mô, tổ chức cao hơn sau khi giành được độc lập. Chính những điều kiện trên đã đưa tinh thần Ấn Độ  vào xã hội Champa và được cư dân ở đây chấp nhận coi đó là mô hình đi lên của dân tộc mình trong lịch sử. Tinh thần đó đã chi phối dân tộc Chăm xây dựng nên nền văn hoá Champa thấm đậm  tư tưởng, tôn giáo Ấn Độ trong toàn bộ tiến trình lịch sử của dân tộc mình.“ Những yếu tố bản địa xa xưa đã tạo nên nền tảng vững chắc của khu vực. Nền nông nghiệp trồng lúa nước với khí hậu gió mùa đẫm nước, chế độ gia đình thiên về mẫu hệ hay song hệ, tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên và thần đất gần gũi thân thiết là những nét sống tự nhiên của họ ”(1), đó là những tiền đề tạo điều kiện cho văn hoá Ấn Độ gia nhập đứng chân trên vùng đất.Theo những nguồn tài liệu cho biết văn hoá Ấn Độ đã có sự tiếp xúc đến vùng Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng từ những thế kỷ đầu công nguyên: “Vào khoảng nửa đầu thế kỷ I sau công nguyên chắc chắn đã có cuộc tiếp xúc giữa những người mang văn hóa Ấn Độ với những người dân bản địa 3 vùng Bắc - Trung - Nam nước ta lúc bấy giờ… Nhiều tu sĩ đã đến tu và truyền giáo ở nước ta, đó là cơ sở hình thành một lớp văn minh Phật giáo - Bà la môn giáo đầu tiên…”(2). Trong 5 tuyến đường biển mà văn hoá Ấn Độ vào nước ta đáng chú ý là các tuyến vào Ninh Thuận - Bình Thuận - Khánh Hoà - Phú Yên, tuyến vào Bình Định, Quảng Nam là những điểm văn hoá Ấn Độ dừng chân và phát triển thuộc địa bàn cư dân Chăm cổ hình thành nên nền văn hoá Chăm sau này. Theo các nhà nghiên cứu, hấp lực đầu tiên đến Đông Nam Á là buôn bán trao đổi thương mại, nhất là tìm kiếm vàng chứ chưa phải là truyền giáo, “Hấp lực kinh tế mà chủ yếu là vàng đã đưa người Ấn Độ đến Đông Nam Á”.
(1)Tham kh¶o thªm Cao Xu©n Phæ:  Nh÷ng ¶nh h­ëng v¨n ho¸ n §é vµo ViÖt Nam. Gi¸o tr×nh ®µo t¹o sau ®¹i häc chuyªn ngµnh KCH. Hµ Néi 1996. T­ liÖu ViÖnKCH
(2) Nguyễn Duy Hinh:: §Òn ®éc c­íc dÊu ch©n ThÇn – biÓu t­îng phËt.T/C KCH sè 1- 2/1988
Khi vượt biển đi xa buôn bán với những chặng đường đầy hiểm nguy họ thường mang các Phật tử, sư tăng, thầy tu, thầy Bà la môn đi theo để cầu cho sự bình yên. Thế là cùng với buôn bán, văn hoá Ấn Độ cùng những giáo lý tôn giáo cũng có điều kiện lan toả. Trong những tôn giáo từ Ấn Độ tỏa ra có thể thấy có hai dòng: Ấn Độ giáo hay Bà la môn giáo và đạo Phật.
Do  hội nhập bằng phương thức hoà bình, có nhiều nét cội nguồn tương đồng văn hoá, Ấn Độ giáo hoà nhập nhanh với tín ngưỡng địa phương có điều kiện phát triển và chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của người Chăm theo suốt chiều dài lịch sử. Để xây dựng được nền văn hoá có giá trị vĩnh hằng ấy, người Chăm đã dựa trên cơ sở tầng nền của nền văn hoá bản địa, tiếp thu , chọn lọc ảnh hưởng của các nền văn hoá bên ngoài để tạo nên bản sắc văn hoá riêng.
II Những nội dung và biểu tượng ảnh hưởng của Ấn Độ giáo.
 Tài liệu khảo cổ học để lại sớm nhất cho thấy giai đoạn đầu Phật giáo chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần Champa. Những tượng phật  tìm được tại Cao Lao hạ(Quảng Bình) hay văn bia Võ Cạnh( Khánh Hoà)“được viết bằng tiếng Phạm đúng cách cho ta thấy rằng họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Ấn Độ…người soạn bia đã để lộ rõ sự tín ngưỡng rõ rệt vào đạo Phật với những câu đối với chúng sinh..hãy uống như người ta uống nước Cam lồ… lời nói đầy nhân hậu với chúng sinh...”(1) .Bia có niên đại khoảng thế kỷ II đến thế kỷ IV.
 Nhưng chi phối chính trong đời sống tinh thần của người Chăm là Ấn Độ giáo, có thể thấy nội dung và tinh thần thể hiện trên các tài liệu :
1. Tự dạng trên các nguồn gốc văn bia.
Trong những văn bia tìm thấy có niên đại sớm nhất vào thế kỷ IV – V ( bia Mỹ Sơn I, bia Hòn Cục, Chiêm Sơn ( Quảng Nam); bia Chợ Dinh( Phú Yên) là những tự dạng chữ đầu vuông. Nội dung văn bia có nhắc đến tên các vị thần của  (1) Tham kh¶o thªm:
- L Finot: Bia Vâ C¹nh ( Kh¸nh Hoµ) BEFEO TËp XV.Tr 2 – 3.
- Lª Träng Kh¸nh: Bia Vâ C¹nh ( Kh¸nh Hoµ).NPHMVKCH.Hµ Néi 1993; tr 304
Ấn Độ giáo như Thần Anhi(Thần Lửa) hay một dạng của thần Shiva(Bhađrêxvaraxvamin). người dựng bia là Đại Vương(Maharaja) hay vua Bhađravarman I.Tài liệu lịch sử nói về  đầu thế kỷ IV vua Lâm ấp ( Lin-Yi) Phạm Văn năm 340  cử sứ bộ sang cống nhà Tấn ngoài voi thuần dưỡng còn có bức thư viết bằng chữ Hồ ( tức chữ  Ấn Độ cổ) .
Ảnh hưởng tự dạng của Ấn Độ kéo dài cho đến thế kỷ IX, người Chăm mới sáng tạo ra chữ Chăm cổ. Về nội dung văn bản các văn bia đều thể hiện rõ nội dung về tôn giáo Ấn Độ tên các vị thần, vị vua được thần hóa, chế độ đẳng cấp vv... Văn bia đã cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa tôn giáo của Ấn Độ đến cộng đồng cư dân Chăm trên mọi vùng lãnh thổ.
Bia Hòn Cục và bia Chợ Dinh
2. Những biểu tượng tôn giáo trong điêu khắc.
Điêu khắc đá Champa cho đến nay được biết chủ yếu có nguồn gốc từ các công trình kiến trúc tôn giáo( đền – tháp thờ). Những tác phẩm điêu khắc thể hiện trên hai hình thức: điêu khắc đá thể hiện trên bệ thờ, tượng thờ và điêu khắc đá thể hiện  là các thành phần kiến trúc. Điêu khắc đá tượng thờ, bệ thờ được thể hiện độc lập, là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh: bệ thờ hoàn chỉnh thờ trong lòng tháp, tượng thờ thường là khối tượng tròn là các vị thần hoặc vật linh. Điêu khắc đá là thành phần kiến trúc gồm nhiều loại hình khác nhau, đảm nhận vị trí, công năng khác nhau trong kiến trúc nên các đề tài thể hiện khác nhau phù hợp với tổng thể kiến trúc như: bậc cửa tháp, lan can, cột cửa, mi cửa, TyPam( trang trí vòm cửa), trang trí các vòm cửa tầng tháp, đá trang trí điểm góc vv.. thường được thể hiện dưới dạng phù điêu. Mặc dù các tác phẩm điêu khắc đá  có vai trò, vị trí khác nhau nhưng nội dung thể hiện khá thống nhất đó là hình ảnh liên quan đến các vị thần Ấn Độ giáo. Những hình ảnh này có mặt trên cả hai thể loại : tượng tròn và phù điêu có mặt theo suốt chiều dài lịch sử các công trình kiến trúc tôn giáo Champa.
2.1     Các vị thần Ấn Độ giáo.
 Trong hệ thống thần linh vô cùng phong phú đa dạng của văn hóa Ấn Độ, dựa vào truyền thống văn hóa bản địa, yếu tố tâm lý dân tộc, môi trường cư trú, người dân Chăm đã tiếp thu  và thể hiện  hình ảnh khá nhiều vị thần và những hình ảnh đó theo họ suốt đời sống tâm linh  dọc theo dặm dài lịch sử:
- Trước hết là hình ảnh 3 vị thần chính: Bhrama- Visnu – Shiva. Trong văn hóa Champa hình tượng thần Shiva được biểu hiện sớm nhất thể hiện qua biểu tượng Linga, đó là 7 Linga trụ tròn tìm được tại Mỹ Sơn.
Linga tại Mỹ Sơn
Những hiện vật điêu khắc đá có niên đại sớm thế kỷ VIII – IX thể hiện sự hợp nhất của hình ảnh vị thần Shiva và Visnu đó là Linga có 2 phần trụ tròn thể hiện Shiva và bát giác thể hiện Visnu như các hiện vật tại: Vân Trạch Hòa, Ưu Điềm, Mỹ Khánh ( Thừa Thiên Huế), Tuy Phước ( Bình Định);  Tuy Phong ( Bình Thuận) và Khe Thẻ ( Quảng Nam)... Những hiện vật này thường có kích thước không lớn.
Linga tại Ưu Điềm- Tuy Phước và Tuy Phong
Hiện vật điêu khắc phổ biển là hình ảnh 3 vị thần trên một biểu tượng Linga ( Tam vị nhất thể) là Linga có cấu trúc 3 phần: trụ tròn ( Shiva) Bát giác( Visnu) và vuông( Bhrama). Những hiện vật này thưởng có kích thước lớn, trang trí đẹp.
 Biểu tượng này được khắc tạc thể hiện theo nội dung của một thần thoại Ấn Độ
Linga các tháp nhóm A- E – F ở Mỹ Sơn
Ngoài những khối tượng tròn, hình ảnh 3 vị thần chính còn được thể hiện trên cùng một bức phù điêu (Ty Pam) trang trí vòm cửa ở phế tích Ưu Điềm với hình ảnh 3 vị thần chính trên cùng một tác phẩm
Phù điêu Ưu Điềm  và Mỹ Sơn E1
Tác phẩm điêu khắc có niên đại sớm vào thế kỷ VII là mi cửa tháp Mỹ Sơn E1 là hình ảnh của hai vị thần Bhrama với Visnu trong đó hình ảnh thần Bhrama giữ vai trò chủ đạo.
 Nhưng trong điêu khắc Champa vai trò của thần Shiva giữ vị trí quan trọng trong các tác phẩm điêu khắc. Sự có mặt của hình ảnh thần Shiva có mặt nhiều và xuyên suốt trong điêu khắc Champa đã được các nhà nghiên cứu cho rằng thần Shiva là vị thần chính được người Chăm thờ phụng- Shiva giáo.

Thần Shiva trong trang trí vòm cửa tháp tại Trà Liên ( Quảng Trị) và Mỹ Sơn.
Hình ảnh thần Shiva không những thể hiện trên phù điêu mà còn thể hiện dưới dạng tượng tròn khá hoàn chỉnh.Bên cạnh đó là hình ảnh các vị thần Bhrama
( thần sáng tạo), Visnu( thần bảo tồn), Skanda( thần chiến tranh),  hay các vị thần bảo trợ xã hội như thần Ganesa( phúc thần), Kubera ( thần tài lộc), Drappala( thần gác cửa)... cũng được thể hiện khá nhiều trên các công trình, tác phẩm điêu khắc.Đây được coi là các vị thần Ấn Độ giáo điển hình được người  Chăm thờ phụng, trong đó sự có mặt của thần Shiva  giữ vai trò chủ đạo.
2.2. Các vị thần tự nhiên.
Cùng với các vị thần tôn giáo, các vị thần tự nhiên có nguồn gốc Ấn Độ cũng  gia nhập vào đời sống tâm linh người Chăm và được thể hiện qua các phẩm điêu khắc như: thần Agnhi( thần lửa), Vanura( thần đại dương), Vayu ( thần gió),Surya(
Tượng thần Shi va
thần mặt trời- thần thái dương), Inđra( thần sấm sét), thần Lokapala( thần phương hướng), Parvati( thần núi),  Balarama( thần đất),Yaksa( thần rừng), Krihna( thần đồng cỏ), Yama( thần chết), Isana( đấng tự tại), Kala ( thần thời gian)..... Những vị thần này ngoài yếu tố văn hóa Ấn Độ, đây cũng là những yếu tố tự nhiên chi phối đời sống của người Chăm cho nên sự gia nhập và tồn tại của các vị thần là hằng số có mặt xuyên xuốt trong đời sống văn hóa và tôn giáo Champa trong lịch sử
2.3. Các biểu tượng Linh thú.
Song hành cùng các vị thần, mỗi vị thần linh lại có một linh thú là vật cưỡi như thần Shiva với bò Nandin; thần Bhrama với ngống Hamsa; thần Visnu với thần điểu Garuda.  Bên cạnh đó là các con vật như rắn Naga, rắn  thủy quái Makara, Giahasimha, Khỉ ( Haruman), Sư tử vv...
2.4. Các tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung sử thi hay tôn giáo.
 Cùng với hình ảnh các vị thần, điêu khắc Champa còn thể hiện  trích đoạn nội dung các s sử thi, trường ca, hay truyền thuyết cổ tích có nội dung văn hóa Ấn Độ. Có thể gặp trên các tác phẩm điêu khắc thể hiện nội dung về đám cưới thần Shiva, cuộc đấu trí giữa quỷ Ravana với thần Shiva trên đỉnh núi Kaisala.
Quỷ Ravana đấu trí cùng thần Shiva( Phù điêu tại Quảng Điền và Mỹ Sơn F2)
Một số tác phẩm thể hiện nội dung trường ca Ramaya như cảnh lễ cưới nàng Sita trên bệ thờ Trà Kiệu, hay diễn lại sự tích Hoàng tử Rama cứu Sita với sự trợ giúp của Hầu vương trang trí trên đế tháp Nam Khương Mỹ( Quảng Nam).
Điểm qua những đề tài điêu khắc trong văn hóa Champa, có thể thấy toàn bộ nội dung điêu khắc đều có nội dung mang ảnh hưởng từ văn hóa, tôn giáo Ấn Độ du nhập qua t¹o nªn nh÷ng trung t©m t«n gi¸o lớn chi phèi ®êi sèng tinh thÇn cña d©n téc m×nh theo suốt chiều dài lịch sử tộc người.
III. Văn hóa Champa: Dân tộc và hội nhập
Để có nền văn hóa mang đậm bản sắc tộc người, người Chăm đã kế thừa trên nền tảng văn hóa tín ngưỡng của tộc người mình được hình thành và dựng xây trong suốt tiền trình tồn tại từ thời tiền – sơ sử. Với điều kiện lịch sử cụ thể, người Chăm sớm giành được độc lập, tự chủ nên họ có điều kiện chủ động hội nhập văn hóa,   tạo điều kiện cho văn hóa tôn giáo Ấn Độ dừng chân và phát triển trên dải đất miền Trung. Văn hóa, tôn giáo Ấn Độ buổi đầu đã có mặt trên suốt dải đất hình chữ S, nhưng chỉ dừng chân và phát triển trên vùng đất người Chăm quản lý trong lịch sử.Nếu văn hóa Trung Hoa ảnh hưởng đậm trong đời sống tinh thần văn hóa Việt, thì văn hóa Ấn là sợi chỉ đỏ xuyên xuốt trong đời sống tinh thần của cư dân Chăm. Mặc dù vậy, trong quá trình tiếp thu và phát triển văn hóa Champa vẫn tự khẳng định bản sắc tộc người  của mình qua các tác phẩm điêu khắc. Những phù điêu trang trí trên mi cửa tháp Mỹ Sơn E4, Chánh Lộ thể hiện cảnh sinh hoạt của triều đình Champa, hay những trang trí trên bệ thờ Đồng Dương tả những cảnh sinh hoạt triều đình, cảnh múa hát, sinh hoạt vẫn mang đậm sắc thái tộc Chăm. Sự thần hóa các vị vua, đồng nhất với thần linh Ấn Độ ( Shiva hay Bhrama) hay đưa tục thờ cúng tổ tiên vào đền thờ các thần linh đã làm nên tính Champa trong các hình ảnh vị thần hay đền thờ ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ.Có thể thấy bản chất của văn hóa Champa là truyền thống văn hóa, tín ngưỡng Chămpa được núp dưới vỏ bọc văn hóa tôn giáo Ấn Độ và ngược lại, văn hóa, tôn giáo Ấn Độ đã hội nhập và thành công trong văn hóa Champa, hình thành nên một vùng văn hóa “phi Hoa” trong tổng thể văn hóa Việt Nam trong lịch sử. Sự thành công này đã tạo nên  mối quan hệ truyền thống văn hóa giữa các tộc người sinh sống trên dải đất Việt Nam  và Ấn Độ trong lịch sử.  Mối quan hệ  trong lịch sử là nền tảng, tiền đề cho sự hợp tác và phát triển góp phần xây dựng nên mối quan hệ Việt- Ấn ngày càng gắn bó hữu nghị trong tương lại./.


 Biểu tượng Shiva gắn với hình ảnh các vị vua trong Champa tại PoKllong Gia Lai và Porome