Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015

CHUYỆN PHIẾM:
NGÀY XƯA
                                                    Ngày xưa khi còn bé, qua những biến động chiến tranh, xã hội trong nhà vẫn giữ được đôi câu đối, bức đại tự viết chữ Hán làm đồ thờ. Cụ bảo cháu học mấy chữ để đọc và hiểu nội dung sau giữ nếp nhà. Ở trường được học đó là tàn dư của phong kiến thối nát, nên chả mấy khi chú ý. Những buổi học Hán tự sơ đẳng do cụ dạy chán ngắt: nhân chi sơ tính bản thiện, hay quan quan thư cưu vv... xa lạ đâu háo hức bằng: Đất nước ta rừng vàng biển bạc... Cho thế giới đại đồng, tiến lên quân hồng vv...Học mãi chữ Tác đáng chữ Tộ thế là vứt...
Cụ thay đổi cách, đêm nằm ngắm sao trời, cụ lại kể những việc của người xưa của người làm trai:
Nhân , Lễ, Nghĩa, Trí, Tín là căn cốt của người làm trai. Công , Dung, Ngôn , Hạnh là căn cốt người con gái.
Cụ còn đọc thơ"
 Trai thì Trung Tín làm đầu
Gái lấy Trinh tiết làm câu giữ mình.
Nằm nghe đúng là cụ phong kiến thật.
Chưa hết, cụ còn kể nghiệp của người làm trai:
Lập nghiệp:con người ai sinh ra trên đời cũng phải lập nghiệp, đó là cái nghề nuôi sống mình. xã hội có nhiều nghề thì có bấy nhiêu nghiệp: làm nông, buôn bán, học chữ, làm thợ.... làm nghề gì thì chuyên nghề ấy, sống chết vì nó. Nhất nghệ tinh thì  mới có công
Lập Công: từ nghề của mình, say mê công việc, làm nên những chuyện hữu ích, được mọi người thừa nhận, ghi công. Lập được công rồi mới có danh được mọi người biết đến, tìm về học hỏi.
Lập Danh: con người có nghệ thì có danh, danh ấy trong nghề, trong vùng, rộng hơn trong mọi vùng. Danh ấy phải do nghề tạo  nên mới bền vững. Nếu có danh mà không có thực thì " mua danh ba vạn, bán danh ba đồng"
Lập Ngôn: có danh rồi thì con người mới Lập Ngôn, nói những câu nói nổi tiếng, được mọi người ghi nhớ, làm theo mà bây giờ người ta gọi là danh ngôn.
Lập Thuyết: lập ngôn vững vàng thì lập thuyết. Đây là những con người cao siêu lập ra các chủ thuyết để người đời noi, làm theo. Họ trở thành thần tượng, lãnh tụ của  nhóm người theo chủ thuyết ấy.
Hỏi cụ mỗi người thì làm thế nào trong Ngũ lập ấy?
- Lập nghiệp thì ai cũng phải làm rồi, không làm lấy gì mà sống. Nên ai cũng có nghiệp, đấy là Bách tính ( trăm họ).
- Lập công: ai theo nghề gì mà chẳng muốn lập công, muốn được ghi danh: giấy khen, bằng khen, danh hiệu, huân huy chương. Đấy cũng là việc thường của dân Bách tính, Bách nghệ.
- Lập Danh thì của những người Tuấn Kiệt. Hơn vạn người thì gọi là Tuấn; Hơn mười vạn thì gọi là Kiệt. Họ là những người ưu tú trong cộng đồng, làm được những việc hơn người, đóng góp có ích hơn cho xã hội.
- Lập Ngôn thì theo địa vị, công sức đóng góp cho cộng đồng mà nói. Địa vị là vị trí đứng nói: người đứng trên đỉnh đồi nói  vọng xa hơn người đứng dưới chân đồi nói. Ngôn (lời) nói là theo kết quả mình đóng góp được mà nói. Địa vị cao mà làm dở thì nói không ai tin, làm được  mà đứng dưới chân đồi nói thì vang không xa.
- Lập thuyết: là hệ thống hóa thành một chủ thuyết để mọi người noi theo. Chủ thuyết đó đúng thì người theo đông, chủ thuyết đó sai thì người nào có quyền lợi theo chủ thuyết ấy họ sẽ làm theo.
Vì thế con người phải nhận biết thân phận mình để lập gì cho phù hợp. Muốn biết thân phận mình thế nào thì phải học mới biết.Tài đức ra sao, hưởng danh là vậy. Trâu chết để da, người ta chết để tiếng.
Trong mỗi con người có một số phận khác nhau, tùy theo tri thức học được mà thành người.
- Người có Nhân thì lập được nghiệp. Nhân là tính người. Sống đời hiền lành, chăm lo học hỏi, an tâm học nghề, vui vẻ làm nghiệp, không phân biệt nghề sang hèn, thuận ý làm ăn, hòa đồng người khác. Đó là người có nghiệp.
- Người có Lễ thì lập được công.Người sống biết kính trên nhường dưới. Kính trên thì dạy bảo lại cho, truyền trao kinh nghiệm. Nhường dưới thì biết nghe người dưới nói phải. Thu nhận dưới trên thực hành tác nghiệp tất lập nên công để đời sau phải ghi nhận.
- Người có Nghĩa thì lập được Danh. Sống trọn nghĩa tình, có trước có sau. "Giàu không đổi bạn, sang không đổi vợ". Danh chính ngôn thuận, việc làm quang minh, thuận theo lẽ phải, để lại việc tốt trên đời . Đó là người có Danh.
- Người có Trí thì lập Ngôn. Học rộng, biết nhiều làm theo điều hay lẽ phải, ích quốc lợi dân, sống vì thiên hạ. Nói một lời muôn người hưởng ứng, vạn người tuân theo. Đó là người lập Ngôn.
- Người có Tín thì lập Thuyết. Hiểu biết lòng người, thuận theo quy luật, nắm bắt thời cơ, đề ra chủ thuyết được mọi người theo. Giữ được chữ Tín thì thuyết được thực hành, người người hưởng ứng. Không giữ được chữ Tín thì lòng người nghi ngờ rời xa, thuyết ấy tất đổ.
Trong con người khi sinh ra ai cũng có tính bản thiện. Rèn luyện Ngũ thường thì mới làm nên Ngũ Nghiệp. Nhưng đời biến khôn lường, lòng người thay đổi. Khó thay.
 Lời cụ dặn đến bây giờ con cũng không hiểu, đúng là phong kiến, may lắm con tự nhận mình lập nghiệp còn dang dở, có nghề không ra nghề. Nhìn ra bên ngoài cũng thế: ai đời có nghề gia truyền như: nấu phở, mổ chó. Gặp người thì danh nổi như cồn nhưng họ làm được gì ai biết, có chăng chỉ nói giỏi mà bọn trẻ bây giờ gọi là chém gió, chém chuối gì ấy. Lập ngôn thì chẳng thấy đâu nói chi đến lập thuyết.... Nhưng nghĩ lại đời nay cái gì cũng có, không có được thì mua.
May mắn thay, các Cụ đều xa rồi Diễm ơi, nếu các cụ sống lâu như cụ Bành Tổ thì không biết dạy con cháu gì đây khi mà:  thuyết đổ, ngôn rối, danh hư, công hão, nghiệp gian...Ai mà tin đây. Khủng hoảng...



CHUYỆN GẪU:
 VƯỢT ẢI NGÀN NĂM...
Buổi đầu bình minh của lịch sử, dân tộc ta đã có 3 vùng, từ 3 nền văn hóa dựng xây nên 3 quốc gia cổ đại. Trong khi nền văn hóa phía Bắc chịu sự đô hộ, đồng hóa của phong kiến Trung Hoa, thì hai nền văn hóa phía Nam lại tiếp thu một nền văn hóa từ Ấn Độ đưa sang bằng con đường thương mại, hòa bình. Hai nền văn hóa ấy dựa trên cơ tầng văn hóa bản địa, tiếp thu chọn lọc kết hợp hài hòa tính bản địa và sự hội nhập làm nên bản sắc riêng văn hóa Champa và Óc Eo tỏa sáng, thì nền văn hóa Việt lại phải gồng mình chống lại sự đồng hóa, Hoa hóa để giữ gìn bản sắc của mình. Sự bành trướng, bá quyền của nền văn minh Hoa Hạ có lẽ cũng vướng các Ải của, do điều kiện tự nhiên tạo ra. Nhà Hán chia nước ta thành Châu quận, thì Ải đầu tiên ngăn phía Nam là dải Hoành Sơn gọi tên Tam Điệp.Tuy không cao ngất nhưng hiểm trở đã ngăn cách đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung Bộ. Từ nam Tam điệp trở vào nhà Hán tổ chức các quận Cửu Chân và xa hơn là quận Nhật Nam.
 Nhờ có Ải giăng thành  hiểm trở này mà trong ngàn năm chống đô hộ ấy, các cuộc khởi nghĩa như Bà Triệu (Núi Nưa - Thanh Hóa); Mai Thúc Loan (Vạn An- Nghệ An) đã nổi dậy khởi nghĩa thành lập triều đình riêng. Có lẽ cơn sóng khát vọng độc lập dân tộc được va đập, loan tỏa từ Ải Hoành Sơn của người Chăm đã thúc đẩy khát khao của người Việt. Sử ghi rằng khi mai Thúc Loan khởi nghĩa có hàng vạn quân từ Champa, Chân Lạp ra giúp sức. Mạc dù có Ải ngăn, người giúp nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập của người dân Việt chưa thành. Chỉ có Ải Hoành Sơn cùng với người Chăm là con Ải đầu tiên ngăn chặn được làn sóng bá quyền của Trung Hoa xuống phương Nam.
Ải Tam Điệp trong nghìn năm Bắc thuộc không phát huy được sứ mệnh tự nhiên của mình, những trong lịch sử vẫn giữ vai trò địa tự nhiên gắn với địa lịch sử của dân tộc. Cuộc rút quân của nhà Tây Sơn, đường bộ chặn ngang Tam Điệp, đường thủy trấn giữ Biện Sơn liên hệ thủy bộ với nhau đã tạo nên bức trường thành ngăn quân Thanh xâm lược tràn xuống phương Nam. Từ tiền phương vững chắc này, nhà Tây Sơn đã tổ chức xưng đế ở Phú Xuân, lấy quân của Thanh Nghệ, tạo nên sức mạnh dân tộc đập tan của xâm lược quân Thanh.
Như vậy trong lịch sử Ải Tam Điệp không phải là cửa Ải đầu tiên khi người Việt mở cõi xuống phương Nam mà Ải đầu tiên trong quá trình thống nhất lãnh thổ, Ải Hoành Sơn mới là nơi nghìn năm mới nhọc nhằn qua khỏi.....

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

CHUYỆN GẪU 1
 VƯỢT ẢI NGÀN NĂM
              Ngày nay, đi theo con đường quốc lộ từ  Bắc vào Nam, từ kinh đô Thăng Long xưa (Hà Nội) tiến xuống phía Nam, ải đầu tiên bắt gặp là dãy núi giăng thành Tam Điệp (Ninh Bình). Đây là dải Hoành Sơn đầu tiên ngăn chia các miền đất. Núi không cao nhưng khá hiểm trở như một bức trường thành tự nhiên. Lịch sử có ghi lại khi quân Thanh sang xâm lược, theo kế sách của Ngô Thì Nhậm, quân Tây Sơn đã lợi dụng địa hiểm này ngăn chặn Bắc - Nam tạo thời cơ cho chiến công đại phá quân Thanh mùa xuân năm 1789. Phía Bắc Tam Điệp là đồng bằng Bắc Bộ mở đầu là vùng đất Ninh Bình (sau này gọi là khu III); phía Nam là Thanh Hóa (sau này gọi là khu IV). Đây được coi là ải đầu tiên trên con đường xuống phương Nam.Từ nam Tam Điệp chạy dài qua địa bàn các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh  đến dải hoành sơn thứ hai chạy ngang cắt chia vùng đất. Dải hoành sơn  cao ngất, sừng sững hiểm trở với núi giăng dài chặn ngang con đường xuống phương Nam. Chính dải núi này là Ải mà ngàn năm dân tộc ta mới vượt qua trên con đường tiến xuống phía Nam. Sự hiểm trở của dải núi này mà mãi sau này người ta vẫn tận dụng làm địa giới chia cắt dân tộc. Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII chỉ lời khuyên của một con người " Hoành Sơn nhất đái; Vạn đại dung thân" mà dân tộc ta chia cắt đến gần 200 năm với xứ Đàng Trong - Đàng Ngoài để huynh đệ tương tàn với 7 cuộc chiến thấm đẫm máu xương.
 Từ kiến tạo tự nhiên, sự hiểm trở của núi sông, Hoành Sơn là ải đầu tiên mà gần ngàn năm dân tộc mới vượt qua được. Đõ là "cõi" phía Nam của người Việt trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Theo tài liệu  của các nhà Khảo cổ cho biết, thời kỳ đầu dựng nước, trên địa bàn hành chính nước ta hiện nay có 3 nền văn hóa lớn, điển hình thời đại kim khí. Văn hóa Đông Sơn lấy đồng bằng sông Hồng (sông Cái) sông Mã, sông Cả làm trung tâm. Đây là địa bàn phía Bắc Hoành sơn trở ra. Văn hóa Sa Huỳnh chiếm lĩnh dải đất miền Trung- phía Nam dải Hoành Sơn. Văn hóa Đồng Nai lấy sông Đồng Nai (sông Mẹ) làm trung tâm. Ba nền văn hóa này là tầng nền để phát triển thành  những quốc gia cổ đại đầu tiên  trên lãnh thổ. Người Việt chiếm lĩnh phía Bắc lấy đồng bằng Bắc Bộ, Thanh - Nghệ - Tĩnh là hạt nhân để hình thành nên nhà nước Văn Lang - Âu lạc sau này bị người Trung Hoa đô hộ đến ngàn năm. Văn hóa Sa Huỳnh được người Chăm kế thừa dựng nên nhà nước cổ Lâm Ấp. Văn hóa Đồng Nai sau này được phát triển hình thành nên nhà nước cổ Phù Nam. Mỗi quốc gia cổ có một không gian riêng, cõi riêng tồn tại.
Cõi riêng của người Chăm từ khi giành được độc lập lấy Hoành Sơn làm biên đối địch với phía Bắc bị phong kiến Trung Hoa đô hộ và đường biên ấy kéo dài đằng đẵng đến ngàn năm chỉ đến khi người Việt độc lập thì đường biên ấy mới dần bị xóa bỏ. Dấu tích đường biên ấy ngày nay vẫn còn là dãy thành đất đắp dài gọi là Lâm Ấp thế lũy nằm trên đỉnh Hoành Sơn. Ải đầu tiên ngăn cách là Lâm Ấp thế lũy. Dân tộc ta vượt ải như thế nào xin viết tiếp phần sau....( còn tiếp)

CHUYỆN GẪU...
MANG GƯƠM ĐI MỞ CÕI
                             Khá lâu rồi, nhân dịp Hà Nội làm đại lễ kỷ niệm 1.000 năm, có người hỏi: Hà Nội kỷ niệm 1000 năm; Huế kỷ niệm 700 năm; Sài Gòn kỷ niệm 300 năm, vậy các thành phố nước ta " già không đều" à ?
Xin thưa đó là kỷ niệm về một quá trình mở cõi của dân tộc Việt trường trinh xuống phương Nam. Không hiểu sao, những ngày như thế, tôi đều nhớ về câu thơ của cụ Huỳnh Văn Nghệ:
Từ thưở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Cụ viết quá đúng, chỉ có người hiểu lịch sử mới viết được như vậy và buồn thay sau này nhiều người trích lại thay đổi thành:
 Từ thưở mang gươm đi mở nước
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
Chỉ có những người hiểu lịch sử dân tộc như cụ Huỳnh mới có lòng yêu nước nồng nàn, yêu dân tộc mình và trở thành danh tướng một thời của miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống xâm lăng
Mở cõi khác mở nước.
Nam quốc sơn Hà Nam đế cư
 Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư
Bản tuyên ngôn độc lập được coi là đầu tiên của dân tộc đã viết như thế. Dù bây giờ còn tranh luận nhau bài thơ thần ấy do Lý Thường Kiệt, hay có từ thời Lê Hoàn viết...
Sau này bản tuyên ngôn độc lập được coi là thứ hai chỉ rõ
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc - Nam cũng khác.
 Đại cáo bình ngô của Nguyễn Trãi đã nói lên bờ cõi, không gian sinh tồn của mỗi dân tộc. Như vậy mỗi tộc người có một cõi khác nhau và dân tộc ta đã đi mở cõi, mở rộng không gian lãnh thổ sinh tồn của dân tộc mình. Để mở được cõi phải có những điều kiện, yếu tố nhất định trong lịch sử dân tộc.
Sau hơn một nghìn năm bi thương chống đô hộ phong kiến Bắc phương, những cuộc đấu tranh giành độc lập bị tắm mình trong máu và nước mắt: cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn... Thế kỷ X dân tộc ta giành được độc lập, xây dựng nhà nước phong kiến độc lập đầu tiên với chiến công chống xâm lăng lừng lẫy trên sóng nước Bạch Đằng của Ngô Quyền, mở đầu cho thời kỳ độc lập. Những tao loạn buổi đầu qua các triều đài Ngô- Đinh - Tiền Lê để đến thế kỷ XI( 1010) nhà Lý chuyển đô về Thăng Long tạo nên nhà nước độc lập vững chắc làm tiền đề, mở đầu cuộc trường trinh cho quá trình mở cõi xuống phương Nam
Chính vì thế sau này Huỳnh văn Nghệ mới viết: mang gươm đi mở cõi từ khi Thăng Long là kinh đô của dân tộc. Để có diện mạo lãnh thổ hành chính nước ta hiện nay, quá trình mở cõi ấy kéo dài gần một thiên niên kỷ với nhiều khúc thăng trầm, máu và nước mắt của bao lớp người đã ngã xuống, đã bồi đắp nên hình hài lãnh thổ Việt Nam. Đây là lý do tôi bắt đầu viết về quá trình mang gươm mở cõi xuống phương Nam. Là ý kiến cá nhân, mọi đăng tải, sử dụng lại đều không có giá trị
( tiếp theo): Bài 1: Vượt ải ngàn năm.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015




BÍ ẨN TRA THÀNH ( BÌNH ĐỊNH)
                                                                        
. Trên vùng đất cao  nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bình Định, ven bờ Nam sông Kôn thuộc địa bàn xã Nhân lộc, huyện An Nhơn có một toà thành cổ được nhiều sử sách cùng truyền thuyết địa phương ghi nhận:Thành An Thành. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi “ Thành cũ An thành: tục gọi là thành Bắc ở thôn An thành, phía Đông huyện Tuy viễn, do người Chiêm thành xây, nay đã đổ nát, dấu cũ vẫn còn.”. Sách Đồ Bàn thành ký có ghi chép sơ lược về những toà thành hiện biết của người Chăm nhưng ghi chép về toà thành này đến mức giản lược “…phía Tây Đồ bàn, chỗ ở thôn An thành, tục gọi là thành Tra…”. Truyền thuyết địa phương toà thành này còn nhiều tên gọi khác nhau: Thành Tra, thành Bắc, thành Cư, hay thành Phật Thệ và cho rằng thành An Thành là kinh đô Phật thệ khi người Chăm rời đô vào đây và được xây dựng cùng với cảng Thi nại vào cuối thế kỷ X.Có lẽ do năm tháng cùng sự đổ nát của toà thành, sự lãng quên của con người nên toà thành này hầu như hoang phế.
Cho đến nay trên vùng đất này dấu vết toà thành vẫn còn  như một minh chứng của lịch sử thời đã qua. Khảo sát dấu vết để lại cho thấy:đây là toà thành có quy mô lớn, cấu trúc phức tạp có vai trò quan trọng là trung tâm quân sự, kinh tế trong lịch sử Vijaya.Cấu trúc thành có hai khu độc lập nhưng hoà quyện nhau tạo thành một tổng thể thống nhất.Khu Đông thành Tra có bình đồ hình chữ nhật, hướng Đông Tây, các tường thành được đắp cân đối các góc vuông quy chỉnh.Tường thành phía Đông dài 345m chạy theo hướng Bắc Nam, cao 3m – 5m, mặt tường thành rộng 28m – 31m.Gần chính giữa tường thành phía Đông, cách tường thành phía Bắc 127m có cửa nước cắt ngang tường thành rộng 27m thông với hệ thống bàu nước bên ngoài. Hệ thống bàu nước này được nói thông thuỷ với hệ thống nước sông Kôn làm thành hệ thống hào tự nhiên dưới chân thành.Tường thành phía Nam chạy theo hướng Đông Tây dài 943m, hiện còn cao 2m – 3m, mặt rộng 27m – 32m, Tường thành phía Tây dài 352m chạy theo hướng Bắc nam song song với tường thành phía Đông, dấu vết hiện còn cao 2m – 3m, mặt tường rộng 7m – 10m được đắp bằng gạch vỡ trộn đất đầm lèn vững chắc, có khả năng ven tường thành xưa có công trình kín trúc với những gò đống gạch vỡ ngổn ngang. Tường thành Bắc dài 947m chạy theo hướng Đông Tây, song song với tường thành Nam, dấu vết hiện còn cao 0,7m – 1,0m, mặt tường rộng 3m – 5m. Tường được đắp bằng đất trộn gạch đầm lèn vững chắc. Chính giữa tường thành là một gò đất cao 6m – 8m, diện tích rộng khoảng trên 200m2 , trong lòng ẩn chứa toàn bộ gạch kiến trúc sụp xuống được gọi tên gò Cột Cờ. Bên ngoài dưới chân thành là sông Kôn cuộn chảy làm thành hào tự nhiên  bảo vệ  và cũng là con đường thuỷ lưu thông  thành với bên ngoài .                    
Khu phía Tây liên kết với khu Đông bởi tường thành phía Tây khu Đông. Khu phía Tây hình chữ nhật hướng Đông Tây. Tường thành phía Nam liên kết kéo dài với tường thành Nam khu Đông nhưng lùi xuống về phía Bắc 134m và bắt góc với tường thành phía Tây khu Đông. Tường thành dài 440m, dấu vết còn lại cao1,5m – 2m, mặt tường rộng 10m – 15m. Tường đắp bằng đất trộn gạch đầm lèn chắc , bên ngoài là hào, hào rông 3m – 5m , hiện sâu 1,8m – 2,5m ,nước hào lưu thông với hệ nước hào quanh thành và vùng nập nước phía Nam thành.Tường thành phía Tây chạy theo hướng Bắc nam dài 243m, dấu vết còn lại cao1,5m – 2,3m, mặt tường rộng 15m – 21m, đắp bằng đất trộn  gạch đầm lèn vững chắc.Tường thành Tây bắt góc với tường thành Nam uốn cong hình cánh cung. Chính giữa tường thành Tây cắt ngang là cửa rộng 30m. Đây có thể là cửa nhận nước từ sông Kôn vào thành. Bên ngoài tường thành là hệ thống hào rộng 3m – 5m , sâu 1,8m – 2,5m. Tường thành phía Bắc nói thẳng với tường thành Bắc khu Đông tạo nên dải tường thành thống nhất. Tường còn lại cao 1,2m – 1,5m, mặt rộng 8m – 10m chính giữa có cửa thông với sông Kôn. Trong lòng khu tây là vùng đất rộng phẳng, theo tên gọi hiện nay đây là khu đồng Máng mà tương truyền đây là vịnh thuỷ quân của Champa khi xưa. Tại đây khi khảo sát đã tìm thấy khá nhiều mảnh gốm sứ của nhiều thời đại, đa phần là các mảnh gốm sứ có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Nhìn tổng thể thành Tra là toà thành quy mô lớn được đào đắp kiên cố, bên ngoài có hệ thống hào quanh thành nối liên kết hoàn chỉnh vây ba mặt, riêng phía Bắc sông Kôn là con hào tự nhiên hiểm trở che chắn mặt Bắc khu thành quan trọng này .
Trong long thành có các công trình kiến trúc quy mô lớn được trang trí đẹp. Hiện nay trong lòng thành còn các gò đống kiến trúc xưa sụp đổ mang tên Gò Gach, Gò Cây Me, Bàu Thị , Bàu Mẹt , Bàu Tròn…
Ngoài dấu vết kiến trúc thành hiện còn, kết quả khảo sát cho thấy trong lòng thành còn dấu tích nhiều công trình kiến trúc đổ nát chính giữa thành nội. Kiến trúc được xây chủ yếu bằng gạch, kích thước lớn dài 0,42m, rộng 0,24m , dày 0,12m có màu đỏ nhạt, độ cứng cao. Kỹ thuật xây như kỹ thuật xây các tháp Champa. Ngoài gạch là vật liệu xây dựng chủ yếu còn có nhiều mảnh ngói âm dương kích thước lớn, đầu ngói ống trang trí hình hoa thị, mảnh đất nung trang trí diềm mái vv.. Chứng tỏ đây là một công trình kiến trúc có quy mô lớn được trang trí đẹp. Bên cạnh đó là các thành phần kiến trúc đá, các thanh lanh tô ngang cửa, ngỗng cửa đục lỗ tròn, đặc biệt trong đống gạch đá đổ nát còn tìm thấy một phù điêu tượng thần phúc Lộc( Kubera) bán thân khá đẹp, một phù điêu thể hiện vũ nữ múa.
Phù điêu Nữ Thần Phúc Lộc( Kubera)
Tại địa điểm mang tên ngã ba bà Tề, ven tường thành đã tìm được nhiều phù điêu gốm nung thể hiện các vũ nữ, tu sĩ, các hình trang trí góc kiến trúc. Đây là thành phần gốm nung dùng để trang trí các công trình kiến trúc được xây dựng trong thành. Những hiện vật tìm được cho thấy trước kia tòa thành này có nhiều công trình xây dựng bên trong khá nguy nga lộng lẫy. Niên đại các hiện vật này đều có trước thế kỷ X , trước khi người Chăm chuyển đô về đây.
Là vùng đất trung tâm trên lãnh thổ người Chăm quản lý dọc dải đất miền Trung, châu ViJaya là một châu quan trọng, giàu sản vật, kinh tế phát triển với Thi Nại cảng giao lưu thuận lợi với bên ngoài. Thành Tra lại là hạt nhân của vùng đất, nối liền với thương cảng Thi Nại. Chắc chắn đây là trung tâm chính trị, kinh tế , văn hóa của châu ViJaya trong lịch sử. Thế kỷ XI sau nhiều biến động xã hội, người Chăm chuyển kinh đô về đây, có thể thành Tra giữ vai trò kinh đô trong những năm tháng đầu và trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của người Chăm. Sau nhiều năm dựng xây phát triển, người Chăm chọn và xây dựng một kinh đô mới- Thành Chà Bàn (Nhân Hậu - An Nhơn) cách Tra thành không xa , mở ra thời kỳ mới phát triển huy hoàng của người Chăm trong lịch sử.
Những hiện vật đất nung gốm thành Tra
Nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bình Định, được xây dựng quy mô lớn , kết cấu phức tạp, tạo dựng vững chắc, thành Tra chắc chắn có vị trí quan trọng trong lịch sử Champa và là kinh đô giai đoạn đầu khi nhà nước Champa chuyền về định đô trên vùng đất Vijaya, với những hiện vật tìm được hẳn là chưa đủ để hiểu về tòa thành.
 Theo tài liệu lịch sử ghi chép thời nhà Lý đã tiến quân vào đây, binh lửa đã hủy hoại tòa thành và sau đó người Chăm chuyển đô đến vùng đất Chà Bàn( Nhơn Hậu) ngày nay.  Nhưng một thời kỳ đây là kinh đô của người Chăm vẫn để lại nhiều dấu tích. Còn nhiều điều bí ẩn của tòa thành ẩn dấu trong lòng đất cần được quan tâm nghiên cứu./.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

GIẢNG VÕ TRƯỜNG -  HỌC VIỆN QUÂN SỰ ĐẦU TIÊN Ở VIỆT NAM

              Đầu thế kỷ XV, sau khi  khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của nhà Minh thắng lợi. Nhà Lê được thành lập, cùng với sự phục hưng phát triển kinh tế văn hóa thì việc quan tâm đến xây dựng và phát triển quân đội cũng được triều  đình quan tâm chú ý  để bảo vệ nền độc lập trong đó có việc xây dựng Giảng Võ trường nơi đào tạo chỉ huy và quân sĩ quân đội. Theo tài liệu lịch sử ghi chép từ đầu thời Lê, khu vực phía tây Thăng Long đã được sử dụng, xây dựng thành một trung tâm huấn luyện khảo hạch và diễn tập quân sự của quân đội “ Lê Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ hai ( 1429) ra lệnh cho các tường hiệu và quân nhân các vệ quân 5 đạo tập trận thủy và bộ... niên hiệu Thuận Thiên thời Lê Thái Tổ ở trên núi Khán Sơn dựng điện Giảng Võ, vua thường tới ngự duyệt quân xem bắn”. Thời Lê Thái Tông năm Thiệu Bình thứ nhất ( 1434) ra lệnh cho các quân Ngự Tiền và các vệ quân 5 đạo, đến đầu mùa xuân đều phải đến địa phận Đông Kinh để điểm mục và tập võ nghệ.. Năm 1437 Lê Thái Tông đặt luật lệ khảo thí võ nghệ các tướng hiệu trong các quân vệ như sau: phép thi gồm 3 môn bắn cung, ném tên, đánh mộc... Việc này sau định làm lệ thường. Đời vua Lê Thánh Tông việc huấn luyện quân sĩ trở thành quân lệnh và thể thức đào tạo tướng lĩnh của trường dạy võ Thăng Long được quy định chặt chẽ: các con, cháu trưởng các tước công, hầu, bá, tử, nam và con trưởng các quan văn võ hàm nhị phẩm, tam phẩm nếu xin học võ nghệ sẽ được giao cho các quan thuộc vệ Cẩm Y huấn luyện. Võ sinh hàng ngày phải đến trường Giảng Võ ở phía tây kinh thành tập luyện các môn bắn cung, phóng lao, đâm khiên, cưỡi ngựa... Qua một năm tập luyện, đến tháp chạp võ sinh phải thi sát hạch. Sau 3 năm tập luyện, võ sinh được thi dự tuyển chọn do Bộ Binh đứng ra tổ chức, tùy theo đức tài, công lao mà cất nhắc dần lên...”. Để đáp ứng cho nhu cầu tập luyện, thi, diễn võ bị, tại Giảng Võ Trường, năm 1481 Lê Thánh Tông cho xây dựng điện Giảng võ với quy mô lớn hoàn chỉnh phục vụ cho việc đào tạo tướng sĩ “ Mùa đông tháng 10, đào hồ Hải Trì, hồ này quanh co đến trăm dặm. Giữa hồ có điện Thúy Ngọc, bên hồ xây điện Giảng Võ để tập luyện điểm binh mã”. Như vậy đến thời kỳ này toàn bộ  những hoạt động, tuyển chọn, đào tạo, tập luyện và thao diễn quân sự đều được tập trung về một địa điểm đó là  Giảng Võ trường. Giảng Võ trường hoạt động cho đến năm 1664 mới dần mất vai trò của nó, điện Giảng Võ trở thành trường thi văn với tên gọi là Hội thi trường. Trong hơn 300 năm tồn tại, được xây dựng và dần phát triển, Giảng Võ trường là nơi đào tạo tướng lĩnh, huấn luyện binh sĩ của nhà Lê. Đây có thể coi là trường Võ Bị Quốc Gia đầu tiên trong lịch sử quân sự Việt Nam. Việc tuyển chọn, huấn luyện tướng sĩ được quy định nghiêm chỉnh, học đi đôi với hành (thao diễn) để chọn những người có tài đức, công lao mà cất nhắc dần lên. Sau mấy trăm năm biến đổi bể dâu, Giảng Võ trường chỉ còn lại trong ký ức và sử sách ghi chép, người đời sau chỉ biết có một Giảng Võ trường ở phía Tây kinh thành, nơi súng nổ, ngựa hý, quân reo mang âm hưởng hào hùng của một thời vang vọng. Một quá khứ huy hoàng bị chìm trong màu xanh biếc của vườn cây ao cá trong những ngôi làng bình dị ven đô: Ngọc Khánh, Thủ Lệ, Giảng Võ, Kim Mã, Vạn Phúc của quận Ba Đình, trong đó Ngọc Khánh nổi lên với các gò đất cao trên những vùng đầm hồ quanh khu vực như hồ Ngọc Khánh, hồ Năm Diệm. Năm 1979 làng Ngọc Khánh xã Giảng Võ chuyển thành Phường Giảng Võ, năm 1983 công trường cải tạo hồ Ngọc Khánh phường Giảng Võ được khởi động, dấu vết của một Giảng võ trường xưa dần xuất lộ. Quá trình cải tạo lòng hồ Ngọc Khánh đã phát hiện nhiều di tích kiến trúc cổ, vật liệu xây dựng, vũ khí các loại, đồ gốm sứ của nhiều thời đại; 507 hiện vật thu được được xử lý khoa học, bảo quản và nghiên cứu. Một giả thiết về di tích điện Giảng Võ,  Giảng Võ trường được ghi nhận và được giới khoa học chấp nhận.
Trên một khu đất cao vuông vắn kích thước 60m x 60 m nằm chìm dưới lòng hồ Ngọc Khánh đã tìm thấy dấu tích của 3 nền kiến trúc với dấu vết nền đắp đất tôn cao, đá chân tảng, gạch lát nền trong đó có kiến trúc được xây dựng quy mô lớn 7 gian hai trái. Nhiều đồ gốm sứ có niên đại thế kỷ XV – XVIII... Đặc biệt tại đây đã phát hiện bộ sưu tập vũ khí lớn thời Lê với  hai loại Bạch khí và Hỏa khí. Bạch khí  gồm  400 hiện  vật là vũ khí bằng sắt với nhiều loại hình khác nhau gồm vũ khí
Bản đồ: An Nam bình thắng đồ ( A 2531)
đánh gần và vũ khía đánh xa. Vũ khí đánh gần có dao găm, dao, kiếm các loại, đinh ba, câu liêm... Vũ khí đánh tầm xã có lao, móc câu chùm, mũi tên sắt ba cạnh các loại. Đáng chú ý ở đây còn tìm được dấu tích lò rèn, sỉ sắt, các loại vũ khí rèn chưa hoàn chỉnh, có thể đây là xưởng rèn vũ khí phục vụ huấn luyện cho quân đội tại Giảng Võ trường. Hỏa khí tìm được 29 hiện vật là súng; chủ yếu là súng Lệnh kích thước nhỏ, trong đó có nhiều khẩu đã bị vỡ nòng khi sử dụng. Đạn sử dụng cho súng chủ yếu là đạn đá hình cầu tròn đường kính lớn 5 – 5,5cm, nhỏ nhất 2,5cm – 3cm.. Súng có hai loại : thân súng  hình ống tròn chia làm hai phần, thuôn dần về phía đầu nòng, chuôi cầm liền với thân và thân súng chia làm 3 phần nòng súng, bầu thuốc và chuôi súng. Kỹ thuật chế tác súng là sắt rèn cuộn. Đây là các loại súng được sử dụng huấn luyện binh sĩ, chính vì thế có nhiều khấu bị vỡ nòng khi bắn tập. Có thể nói đây là bộ sưu tập vũ khí phong phú, có giá trị đặc biệt trong việc tìm hiểu trang bị quân đội thời Lê trong lịch sử. Địa điểm,  quy mô kiến trúc, số lượng loại hình vũ khí tìm được,  đối chiếu với ghi chép trong lịch sử có thể thấy đây chính là Giảng Võ trường xưa, nơi đào tạo huấn luyện quân sĩ trong một thời kỳ dài lịch sử. Có thể coi đây là học viện quân sự đầu tiên của quân đội Đại Việt trong thời kỳ gìn giữ độc lập tự chủ.

Trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam, việc củng cố quân đôi bảo vệ nền độc lập là việc làm quan trọng, thường xuyên của các triều đại. Thời Lý vua Lý Anh Tông thường tập bắn và cưỡi ngựa ở phía nam thành Đại La, gọi là Xạ Đình, sai các quan võ hàng ngày luyện phép đánh giặc phá trận. Thời Trần, Trần Quốc Tuấn thường khuyên bảo các tướng “ Hãy huấn luyện quân sĩ tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ”. Nhưng có lẽ việc huấn luyện quân sĩ có tổ chức quốc gia, quy củ phải đến thời Lê mới được kiện toàn hoàn chỉnh, thể thức đào tạo có bài bản, quy định chặt chẽ, trở thành  quân lệnh. Như vậy Giảng Võ trường được coi là học viện quân sự đầu tiên của Việt Nam trong lịch sử./.

Thứ Bảy, 30 tháng 5, 2015