Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016


CHÙA NHẪM DƯƠNG (HẢI DƯƠNG) VÀ THIỀN PHÁI PHẬT GIÁO TÀO ĐỘNG



Phật giáo là tôn giáo lớn, đóng vai trò quan trọng, đồng hành theo suốt chiều dài lịch sử nền văn hóa dân tộc. Mặc dù có nguồn gốc "ngoại sinh", khi hội nhập vào đời sông tinh thần của người dân, Phật giáo đã trở thành hệ tư tưởng và có nhiều đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ  nền độc lập và bản sắc văn hóa dân tộc.Trong quá trình hội nhập và phát triển, trong mỗi giai đoạn lịch sử các Thiền phái  Phật giáo có nhiều đóng góp khác nhau, trong đó có thiền phái Tào Động, xuất hiện trong dòng chảy Phật giáo Việt Nam vào thế kỷ XVII - XVIII
I.Vài nét về nguồn gốc:
Theo lịch sử nguồn gốc Thiền Phái Tào Động xuất hiện tại Trung Hoa vào thế kỷ IX. Thiền phái này có hai thiền sư Ðộng Sơn và Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901) sáng lập. Vào thế kỷ XVII thiền phái được du nhập vào Việt Nam Theo tấm bia chùa Hồng Phúc (Hà Nội) soạn năm 1932 cho biết vị Tổ thứ nhất của thiền phái ở Việt Nam là Hòa thượng Thủy Nguyệt, pháp húy Thông giác đạo Nam thiền sư và được coi là truyền thừa đời thứ 36 của thiền phái Tào Động nói chung.
Theo hành trạng của Tổ cho biết ông sinh năm 1637, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng đạo Sơn Nam, vốn có nguồn gốc gia đình " thi thư đời trước nối truyền, đạo đức sửa mình trong sạch. Thiếu thời thi đỗ nho khoa, tên sớm nêu cao bảng hổ. Tráng niên nghiên cứu thêm Thiền học..." (1). Xuất thân từ gia đình nho học,  năm 18 tuổi thi đỗ Cống cử tứ trường, năm 20 tuổi chán cảnh bọt bèo dâu bể tìm để chùa xã Hổ Đội, huyện Thụy Anh xin xuất gia học đạo. Năm 1664, ông cùng hai đệ tử đi  tu học tại  chùa trên núi Phượng Hoàng, Hồ Châu (Trung Quốc) trực tiếp với Hòa thượng Nhất Cú Trì giáo tổ thứ 35 của thiền phái Tào Động " đạo vốn nhận từ núi phượng xa xôi". Trong sáu năm theo học căn cốt   giáo lý  cơ bản của thiền phái Tào Động, năm 1667 (2) ông trở về Việt Nam cư trú tại chùa Vọng Lão ở núi An Sơn, huyện Ðông Triều, tỉnh Hải Dương,  hoằng Dương giáo lý của thiền phái này.
Với giáo lý "Dòng Tào Ðộng chủ trương Vị quân thần".
Có vua là vì có bầy tôi, có bầy tôi là vì có vua:
Vua trông thấy bầy tôi.
Bầy tôi hướng về vua
Vua (một mình)
Bầy tôi (một mình)
Vua và bầy tôi (bên nhau).
Ông đã có mặt tại nhiều ngôi chùa trên các vùng để lan tỏa giáo lý: Tư Phúc (Côn Sơn - Hải Dương),  Quỳnh Lâm, Yên Tử, Đông Sơn vv... Đặc biệt tại kinh đô Thăng Long: các chùa Hàm Long, Hòa Giai và Trấn Quốc (Hà Nội) đều thuộc tông phái Tào Ðộng. Sức sống của thiền phái Tào Động lan tỏa ảnh hưởng khá rộng. Năm 1704, ông mất thọ sáu mươi tám tuổi, được coi là ông tổ thứ nhất của thiền phái Tào Động (Nam thiền sư) ở Việt Nam và tổ thứ 36 của thiền phái Tào Động nói chung.
Vài sơ lược hành trạng của Hòa thượng Thủy Nguyệt- tổ thứ nhất cho thấy:(3)
- Bối cảnh xã hội Việt Nam lúc đó sau cuộc chiến tranh Lê - Mạc liên miên, mặc dù Phật giáo có bề dày hàng ngàn năm trong đời sống tinh thần dân tộc với nhiều thiền phái đóng góp đáng kể, nhưng sau chiến tranh chùa chiền bị quên lãng, phá hủy, sức sống Phật giáo bị tản mát. Cho nên sau chiến tranh việc phục hưng phật giáo để củng cố ý thức hệ dân tộc, tái cấu trúc một xã hội ổn định là việc làm cấp thiết. Thiền phái Tào Động xuất hiện trong thời điểm lịch sử đó  đáp ứng được nhu cầu của dân tộc.
- Tổ thứ nhất của thiền phái Tào Động ở Việt Nam là nhà nho khoa bảng xuất gia. Ông có nền tảng kiến thức cơ bản  về nhận thức xã hội, nhận thấy nên và cần có một thiền phái Phật giáo phù hợp điều kiện xã hội mới để xây dựng hệ tư tưởng  phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Ông đã chọn giáo lý của phái Tào Động làm mục tiêu truyền bá. Xuất thân từ Đại khoa nho giáo ông có đủ kiến thức để nhận biết, tiếp thu giáo lý đạo Phật căn cốt, có chọn lọc phục vụ cho mục đích.
- Phái Tào Động truyền vào Việt Nam  do được người Việt Nam chủ động du nhập. Giáo lý được tiếp thu cơ bản, trực tiếp từ nơi khai sinh ra thiền phái tôn giáo này. Người tiếp thu, truyền bá có kiến thức quảng bác, chọn lọc phù hợp với tinh thần dân tộc nên thiền phái Tào Động có điều kiện dương danh và lưu truyền rộng rãi lâu dài cho đến ngày nay.
II. Chùa Nhẫm Dương và những ngôi chùa liên quan.
Hơn 3 thập niên cuối đời  hoằng dương giáo lý thiền phái Tào Động, tư liệu ghi chép về những địa danh cho biết ông đã tiếp xúc với Hòa thượng chùa Thượng Long (Đông Triều) và trụ lại tại chùa Hạ Long để khuông đồ lãnh chúng' "Sư ở đây không bao lâu dân chúng đến nghe pháp và quy y rất đông"
Từ chùa Hạ Long, cuối đời " Sư bảo bổn chúng rằng: Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương, nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm thì ta ở đấy. Tứ chúng bùi ngùi mà không dám theo. Đợi đúng 7 ngày không thấy nhà sư trở về, tứ chúng cùng nhau kéo lên núi Nhẫm Dương nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, mọi người tìm đến một cái hang thấy sư ngồi kiết già trên trên tảng đá trong hang... Tứ chúng thỉnh nhục thân sư về hỏa táng, chia linh cốt thờ hai nơi, một ở chùa Hạ Long, một ở hang núi Nhẫm Dương".
Như vậy trong hành trạng của mình, tài liệu cho biết Thủy Nguyệt tổ sư liên quan đến 3 địa danh: chùa Hổ Đội quê hương, nơi xuất gia đầu tiên. Chùa Hạ Long nơi chù trì và  chùa Nhẫm Dương nơi tịch tại hang núi Nhẫm Dương. Cốt được thờ hai nơi: chùa Hạ Long và Nhẫm Dương. Từ đó tín đồ coi chùa Nhẫm Dương là chốn Tổ Đình.
 Do thăng trầm biến động của lịch sử, qua năm tháng khảo sát những địa danh ghi chép cho thấy:
1. Chùa Thượng Long:
 Dấu tích chùa Thượng Long nằm trên ngọn núi cao trên 820m so với mực nước biển thuộc xã Bình Khê, thị trấn Mạo Khê. Chùa nằm nơi cao nhất của dãy núi nên tên chùa là Thượng Long? Đỉnh là khoảng đất khá phẳng rộng. Chính giữa là một " huyệt linh"  khá vuông vức trấn trời đất rộng khoảng 9m2 , hiện mọc đầy lau sậy, mà người dân ở đây tương truyền là giếng? Bên cạnh là khối đá sạn hình khối chữ nhật được coi là Mộ thiêng của vị Thiền sư, người thường đàm đạo với sư tổ Tào Động. Phía Đông  thấp dưới sườn là khoảnh đất phẳng, hiện còn lại dấu vết nền chùa cũ. Dựa vào địa hình cho thấy quy mô chùa khá nhỏ. Chắc được dựng bằng vật liệu kém bền vững nên chưa thấy dấu vết vật liệu bền vững. Phía Tây còn lại là ngôi mộ thủy Tổ(?) mới được tôn tạo. Với dấu tích, địa danh còn lại  có thể thấy đây là địa điểm Phật giáo liên quan đến Tổ Sư thiền phái Tào Động
Hai Ngôi Mộ(?) liên quan đến chùa Thượng Long
2 Chùa Hạ Long:
Chùa nằm dưới vị trí sườn núi thấp trên đường lên chùa Thượng Long. Do năm tháng chùa hiện nay được tôn tạo lại. Kiến trúc xưa duy nhất để lại là tháp Mộ. Căn cứ vào dáng tháp, số tầng, kỹ thuật xây dựng cho thấy đây là ngọn tháp được xây dựng vào thế kỷ XVIII. Có thể đây là nơi chứa Bảo cốt của thiền sư Tổ.
3 Chùa Non Đông (Tường Quang)
 Chùa Non Đông tọa lạc trên vùng đất phẳng dưới chân núi thuộc khu Vĩnh Lập, thị trấn Mạo Khê (Đông Triều). Do biến loạn xã hội, chùa cũ không còn, trên địa điểm xưa chùa được tôn tạo lại. Khảo sát hiện trạng cho thấy, tại đây còn lưu giữ 01 tấm bia thế kỷ XIV. Niên hiệu Khai Hựu năm thứ 3 với kích thước còn lại cao 118cm, rộng 52cm, dày 12cm, đặt trên bệ đá khối hộp  chữ nhật vuông dài 89cm, rộng 46cm.
Bia đá chùa Non Đông

Viền khối tạc hoa văn cánh sen khắc nổi mập tròn. Trấn bia vỡ, một bên trang trí hình chim Phượng. Lòng bia khắc chữ khá rõ. 01 tấm bia  niên hiệu Tự Đức, Khối chữ nhật mỏng, để trơn không trang trí. Nội dung bia nói về hành trạng sư chù trì chùa - Tổ Cua. 01 chân tảng đá vuông vức, kích thước lớn.Hai Bảo tháp đá ba tầng thu nhỏ gọn vút cao, các tầng cân đối hài hòa vững chãi. Tháp có niên đại vào thế kỷ XVII - XVIII.
Hai tháp Mộ chùa Non Đông
 Dựa vào di vật còn lại cho thấy chùa là địa điểm thiêng, được hưng công nhiều lần. Lần hưng công có quy mô lớn nhất có thể vào thời thiền phái Tào Động chù trì.
4. Phế tích kiến trúc.
Phế tích nằm không xa chùa Non Đông, ven sườn một quả đòi thấp. Khảo sát địa hình cho thấy tại đây còn dấu vết nền kiến trúc không rộng được kè đá vững chắc. Hạt nhân của kiến trúc hiện còn hai ngôi mộ, trong đó có tháp mộ quy mô không lớn. Di vật liên quan đến tháp mộ còn một phiến đá hình chữ nhật khá dày, được chế tác cẩn thận, hai mặt mài nhẵn có viết về hành trạng sự nghiệp của sư trù trì chùa vào thế kỷ XVIII. Kich thước phiến đá:
Kè đá mặt bằng kiến trúc
Di vật ghi hành trạng
Dài 1,08m, rộng 0,435m, dày 0,22m
5 Chùa Nhẫm Dương (Thánh Quang)
Chùa Nhẫm Dương nằm trên vùng đất phẳng, dưỡi chân dãy núi Nhãm Dương. Đây là dãy núi đá vôi có phong cảnh đẹp, hữu tình trên vùng đất. Do kiến tạo địa chất, qua năm tháng can thiệp của tự nhiên nhiều hang động trong dãy núi được hình thành tạo nên những kỳ quan. Theo tài liệu cho biết Sư tổ thiền phái Tào Động hóa trong hang núi tại đây. Chùa được lưu giữ một phần linh cốt nên nơi đây được thiền phái coi là chốn Tổ Đình. Chùa Nhiễm Dương, do năm tháng cùng biến động xã hội, kiến trúc xưa không còn. Trên địa điểm cũ, chùa được dựng lại. Những dấu tích còn lại ngoài hang thánh tích xưa nơi hóa của Tổ Thiền, những di vật chùa xưa còn lại : 01 chân tảng  khối hộp vuông dá xanh, mặt trang trí cánh sen, kích thước 0,55m x 0,55m
Chân tảng
Trán bia thời Nguyễn
 04 bia đá cùng một tháp Mộ, trong đó bia Thánh Quang thiền tự dựng năm Tự Đức thứ 12 được trang trí đẹp, đề tài lưỡng long  (hóa lá) chầu nguyệt được chạm khắc sắc sảo điển hình cho nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn ở phía Bắc.
III. Sự đóng góp của thiền phái Tào Động vào văn hóa dân tộc thế kỷ XVII - XVIII.
  Phật giáo có mặt ở Việt Nam khá sớm từ những năm đầu công nguyên. Vào thời điểm thiền phái Tào Động có mặt ở Việt Nam, phật giáo đã đứng chân trên dải đất gần hai ngàn năm với nhiều dòng thiền lớn ảnh hưởng sâu rộng: Vô ngôn thông, Tỳ ni đa lưu chi.... hay những thiền phái được người Việt sáng lập như Thảo Đường, Trúc Lâm. Đặc biệt là thiền phái Trúc Lâm do Vua Trần Nhân Tông sáng lập với 3 vị tổ ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội Việt Nam với các trung tâm Yên Tử, Quỳnh Lâm, Côn Sơn.
Vị thế của Phật giáo sa sút vào thế kỷ XV khi ý thức hệ nho giáo thắng thế trong nhà nước quân chủ thời Lê. Sự biến động của xã hội, sự tranh chấp quyền lực của các tập đoàn phong kiến Nam - Bắc triều (Mạc - Lê Trịnh); Đàng trong - Đàng ngoài (Lê Trịnh - Nguyễn) sau hơn trăm năm loạn lạc khiến ý thức hệ nho giáo khủng hoảng. Tầng lớp nho sĩ ngả nghiêng, xã hội biến loạn người dân  có xu hướng quay về nương náu tinh thần nơi cửa phật. Vào thế kỷ XVII khi xã hội dần tương đối ổn định, phật giáo từng bước dần phục hưng. Kế thừa những dòng thiền truyền thống cùng với sự hồi sinh của thiền phái Trúc Lâm thì xuất hiện nhiều dòng thiền khác như Lâm Tế, Liên Tông  Tào Động. Sự xuất hiện thiền phái Tào Động trong điều kiện sự nở rộ của các thiền phái cho thấy thiền phái này có vị thế riêng bởi những đóng góp vào hệ tư tưởng dân tộc.
 Khảo sát các di tích chùa thuộc thiền phái Tào Động với trung tâm là tổ đình Nhẫm Dương bước đầu cho thấy:
- Cơ sở tu hành của thiền phái vốn có từ những cơ sở phật giáo cũ được Tào Động dương danh trở lại nhưng mang nội dung mới. Nằm trên địa bàn vòng cung Đông Triều, các chùa của Tào Động vốn kế thừa các cơ sở của thiền phái Trúc Lâm. Sự có mặt của sư tổ tại các di tích Côn Sơn, Yên Tử... những trung tâm của Trúc Lâm xưa cho thấy khi hoằng dương ông đã chọn một dòng thiền của dân tộc để dương danh. Chính vì thế các chùa thuộc phái Tào Động có liên quan mật thiết nằm  tập trung ở vùng đất Đông Triều  và Nhẫm Dương - Hạ Long được chọn làm nơi tu hành, chứa linh cốt và trở thành Tổ Đình của thiền phái.
-  Những cơ sở vật chất của Tào Động giai đoạn đầu chủ yếu xuất hiện tại những vùng núi do điều kiện lịch sử, đời Vĩnh Trị (1678- 1680) vua Lê Hy Tông ra lệnh cho các quan trong cả nước bất cứ ở đâu Tăng ni hoặc già hoặc trẻ đều đuổi hết về nơi rừng núi. Cho nên các di tích biết đến đều  được xây dựng trên các vùng địa hình này.Do Tào Động xuất hiện muộn, chưa có bề dày năm tháng so với các thiền phái khác, lại không được bảo trợ của chính quyền nên cơ sở vật chất thường quy mô không lớn, mang tính chất cộng đồng nhỏ.
- Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII thiền phái Tào Động được phát huy bởi công của vị Tổ thứ 2 là Thiền sư Tông Diễn. Ông là người nhận thức Phật giáo chỉ phát triển được khi có sự ủng hộ của chính quyền và ông đã tìm cách đưa tinh thần phật giáo Tào Động về kinh đô. Người đã lấy tinh thần của dòng phật giáo Tào Động thuyết pháp nội dung: Dòng Tào Ðộng chủ trương Vị quân thần. Có vua là vì có bầy tôi, có bầy tôi là vì có vua." Phép vua chính cùng phép Phật gắn liền như thịt với da". Tinh thần này phần nào giải quyết cho sự khủng hoảng của tinh thần nho giáo, ủng hộ tinh thần trung Quân, nâng cao vị thế của nhà vua nên được sự ủng hộ của chính quyền. Điều kiện đã cho phép phái Tào Động phát triển trên hai địa bàn, nơi đứng chân đầu tiên (Hạ Long - Nhẫm Dương nơi vị tổ thứ nhất trù trì) và nơi trung tâm đất nước
( Kinh đô Thăng Long). Tại nơi khởi nguồn với Hạ Long - Nhẫm Dương làm trung tâm, phái Tào Động hòa cùng các thiền phái khác dương danh đạo Phật, biến vùng đất Đông Triều thành một trung tâm Phật giáo lớn vào thế kỷ XVII - XVIII mà vào thế kỷ XVII, Nguyễn Dữ đã nhận xét  ở Đông Triều chùa “… dựng nhan nhản khắp nơi, những người cắt tóc làm tăng ni nhiều bằng nửa số dân thường…”.
Tại Thăng Long thiền sư Tông Diễn đã cho khắc bản in kinh Hoa Nghiêm ở chùa Báo Thiên, khắc bản in kinh Pháp Hoa để ở chùa Khán Sơn. Tu sửa chùa Hòa Nhai (Hồng Phúc) làm nơi trù trì, mở nhiều cơ sở của thiền phái nhiều nơi làm nên hệ thống chùa của  phái Tào Động trên vùng đất Thăng Long và phụ cận " kế tục quá khứ, mở rộng tương lai, chốn tùng lâm Hồng Phúc lại chấn hưng; đèn Thiền lại ngời ánh lửa. dòng phái Tào Khê mãi mãi dài lâu. Phong trào tôn giáo lại dâng cao, cùng núi Nùng sông Nhị muôn đời tồn tại"4. Thiền phái Tào Động phát huy rầm rộ vào đầu thế kỷ XVIII và cho đến sau này. Theo văn bia chùa Hồng Phúc cho biết, thiền phái Tào Động khi khắc bia( 1932) được truyền đến  đời thư 47, tức là được 12 đời của thiền phái Tào Động ở Việt Nam.
Sự có mặt của thiền phái Tào Động và sự truyền bá tinh thần Phật giáo trong đời sống xã hội lúc đó đã tạo nên, củng cố ý thức hệ tinh thần dân tộc. Đề cao vai trò của nhà vua là đề cao tính dân tộc " trung quân ái quốc". Tạo nên sự ổn định của xã hội làm nền cho sự phát triển kinh tế văn hóa. Sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền quản lý xã hội với phật giáo  đã đưa phật giáo nhập thế xã hội, tăng cường sự đoàn kết toàn dân tạo nên sức mạnh cho dân tộc. Đó là những đóng góp về tinh thần của thiền phái Tào Động.
Được sự bảo trợ của chính quyền với hai bình tuyến phát triển tại vùng đất Tổ và kinh đô, thiền phái Tào Động đã xây dựng nên hệ thống cơ sở vật chất khá phong phú trong hệ thống chùa tháp Việt Nam. Với hai vùng được xây dựng trong lịch sử, vùng đất Thăng Long cho đến nay còn duy trì khá nhiều di tích cần được điều tra khảo sát tường tận hơn, khẳng định những giá trị lịch sử, đóng góp của dòng Tào Động vào văn hóa Thăng Long trong một thời kỳ lịch sử. Vùng đất Tổ đình Nhẫm Dương cho đến nay nhiều cơ sở vật chất không còn, nhưng dấu tích để lại cho thấy quy mô dù khiêm tốn nhưng đã góp phần khẳng định những giá trị tinh thần và vật chất đóng góp chung vào văn hóa Phật giáo và văn hóa dân tộc. Tại đây cần có kế hoạch phục hồi tôn tạo các di tích trên các địa danh, dấu tích  hiện còn góp phần xây dựng tinh thần Phật giáo trong đời sống văn hóa mới dân tộc: nhân hòa - bác ái, độc lập trên vùng đất địa đầu Đông Bắc của tổ quốc./.


(1- 4) Tuyển tập văn bia Hà Nội' Quyển I: Các vị sư tổ phái Tào Động. NXB KHXH. Hà Nội 1978, tr  118.
(2) Thích Thanh Tứ: Thiền Sư Việt Nam. Thành Hội Phật giáo TP HCM. 1995
(3) Về hành trạng của Tổ Thủy Nguyệt có thể tham khảo:
- Thích Thanh Tứ: Thiền Sư Việt Nam. Thành Hội Phật giáo TP HCM. 1995
- Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận. Nxb Văn học. Hà Nội 2000
- Nguyễn Duy Hinh: Lịch sử đạo Phật Việt Nam. Nxb Tôn giáo - Từ điển bách khoa. Hà Nội 2009.
- Sa môn Như Sơn: Thiền Uyển kế đăng lục. Nxb Hồng Đức.Hà Nội 2015
 - Nguyễn Đại Đồng: Phật giáo Việt Nam( từ khởi nguyên đến năm 1981). Nxb Văn học . Hà Nội 2012

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2015

DẤU ẤN VĂN HÓA ẤN ĐỘ Ở MIỀN TRUNG- VIỆT NAM
                Trong những công trình nghiên cứu hiện biết, nhiều nguồn tài liệu cho thấy mối giao lưu quan hệ văn hóa giữa các vùng Đông Nam Á với Ấn Độ có từ lâu trong lịch sử trong đó có miền Trung Việt Nam. Ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ vào Đông Nam á xuất phát từ nhu cầu thương mại có truyền thống lâu đời từ những năm trước công nguyên. Nhu cầu thương mại chính trong con đường  buôn bán đó là vàng và hương liệu và Đông Nam Á được coi " một xứ sở đầy vàng ở bên kia đại dương".
Miền Trung Việt Nam ở vị trí nằm trên con đường thương mại biển thuận lợi với sản vật phong phú  giàu khoáng sản vàng, nhiều trầm hương, sản phẩm nhiệt đới quý đã trở thành vùng đất hấp dẫn cho các thương nhân Ấn đến trao đổi buôn bán.
 Sự giao lưu càng được tăng cường khi họ phát hiện ra được quy luật của gió mùa trong quá trình vượt biển đến buôn bán với các nước vùng Đông Nam á. Trong khi đó những thế kỷ trước công nguyên người Ấn buôn bán vàng chủ yếu với La Mã thì đầu công nguyên con đường này bị cấm. Họ  quay sang tìm mua vàng và hương liệu ở Đông Nam á. Chịu ảnh hưởng chi phối của gió mùa, khi đến Đông Nam á mua hàng họ thường phải chờ đợi gió thuận khi trở về, trong thời gian đó họ xây dựng các thương điếm, tạo cơ sở đứng chân buôn bán lâu dài và truyền bá văn hoá, tôn giáo của họ tới các cộng đồng cư dân địa phương. Trong các thương điếm được dựng xây có những cơ sở tín ngưỡng của họ. Đây có thể coi là những cơ sở tôn giáo đầu tiên của Ấn Độ trên các nước khu vực Đông Nam á trong đó miền Trung Việt Nam.
Dấu ấn để lại thời kỳ này trong văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung cho biết cư dân nơi đây đã có mối liên hệ giao lưu trao đổi với văn hoá Ấn Độ. Những sản phẩm đồ trang sức bằng thuỷ tinh, mã não, đá ngọc tìm được trong văn hoá Sa Huỳnh, đồ gốm tìm được ở Trà Kiệu là những bằng chứng đầu tiên về mối giao lưu đó. Bước vào thời kỳ lịch sử, kế thừa con đường thương mại đó, khi người Chăm giành được độc lập, văn hóa Ấn Độ có điều kiện phát triển và trở thành dòng chảy chính tạo nên diện mạo văn hóa trên vùng đất.
Trước hết có thể thấy, bên cạnh sự có mặt của văn hóa Ấn Độ trên dải đất miền Trung  còn có sự ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa. Các di tích văn hóa Sa Huỳnh  di vật có nguồn gốc Trung Hoa xuất hiện khá phổ biến, gương đồng, dao thời Tây Hán, đồ gốm Hán, tiền ngũ thù đã có mặt. Đặc biệt nhà Hán đã đặt được quận huyện cai trị trên vùng đất bắc miền Trung (quận Nhật Nam). Sau thế kỷ II (năm 192), người Chăm giành được độc lập dựng nên nhà nước tự chủ (Lin Y - Lâm Ấp) họ đã chọn mô hình xã hội, tinh thần Ấn Độ để xây dựng nên nền văn hóa của mình và tồn tại đến khi hội nhập chung vào lãnh thổ dân tộc.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Chăm đã chọn mô hình văn hóa Ấn Độ, kết hợp với tầng nền văn hóa bản địa để tạo nên văn hóa Champa.“ Dân tộc Chàm đồng hoá nhanh với nền văn minh ấy; họ theo tôn giáo và phong tục, chữ viết và tư tưởng; hành chính và pháp luật của nền văn minh ấy”. Dấu ấn sớm nhất của văn hóa Ấn Độ để lại trên miền Trung là bia Võ Cạnh (Khánh Hòa) " viết bằng chữ Phạn đúng cách, cho ta thấy rằng họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Ấn Độ". “ bia Võ Cạnh  là một dạng Sankrít có nguồn gốc Tamul. Tên gọi Srimara tức là Paramara hay maran là một tước vua của người xứ Pandya, mà rất có thể là người xứ này đến lập nghiệp ở Kauthara (Nha Trang) đã có ý muốn gợi nhớ lại dòng giống Pandya của mình khi khắc bia Võ Cạnh làm kỷ niệm ”. Niên đại bia vào thế kỷ II - IV.
Sau đó là các bia ký: Mỹ Sơn I, Hòn Cục, Chiêm Sơn (Quảng Nam); chợ Dinh ( Phú Yên) có niên đại vào thế kỷ V đã cho biết sự phổ biến của nền văn hóa Ấn Độ trong văn hóa Champa.
Từ sự lựa chọn ban đầu đó, cho đến nay người Chăm đã đưa tinh thần và văn hóa Ấn Độ để lại trên mọi hoạt động, phương thức sống của mình và tồn tại cho đến ngày nay.Với di sản văn hóa Champa đồ sộ để lại gồm vật thể và phi vật thể có thể thấy dấu ấn văn hóa Ấn Độ để lại vô cùng phong phú trên mọi lĩnh vực. Khai thác nguồn tư liệu vật thể: văn bia, kiến trúc, điêu khắc cho thấy những yếu tố văn hóa thấm đậm tinh thần Ấn Độ:
1.Tài liệu văn bia :
Theo thống kê của các học giả người Pháp vào năm 1923, số bia ký Chăm đã được biết là 170( đánh số từ C1 đến C170) , tất cả các bia ký Chăm đều được khắc lên đá thành những tấm bia to và đẹp và một số bia ký khác được khắc lên tường của các tháp Chăm. Cho đến nay có gần 200 bia ký Champa được biết đến trong đó có khoảng số 130 bia ký có thể hiểu được nội dung thì 94 bia nói về Siva giáo, 5 bia về thần Brahma, 3 bia về thần Visnu, 7 bia về đức Phật và 21 bia không rõ về về tính tôn giáo.[1]. Văn bia được coi như nguồn sử liệu tin cậy cung cấp tư liệu nhiều mặt về đời sống xã hội và văn hoá của người Chăm trong lịch sử.
1.1 Địa danh lịch sử:
Theo nguồn tư liệu lịch sử, tên gọi vương quốc cổ Champa có nguồn gốc từ một tên gọi vùng đất Ấn Độ- tên thành phố thuộc lãnh địa của Đại đế Bimbisara và " Dường như những ngưới Ấn định cư tại Việt Nam đã đến từ vùng Champa (tức Bhagalpur, thuộc bang Bihar" [2]. Tên gọi Champa (Campapura) “ đấng SriSambhubhađrêxvara oai linh …trong thánh thi vận hạnh của Campa” hay “ …con đường đi tới nguồn hạnh phúc cho xứ xở Campa”[3] được người Chăm sử dụng trong các bi ký của mình dù lịch sử bên ngoài ghi chép tên quốc gia cổ ấy là Lâm Ấp ( Lin Y); Hoàn Vương, Chiêm Thành vv...Tên gọi đó chỉ khác nhau trong các thời điểm lịch sử. Có tên gọi khác nhau, đó là từ những tư liệu lịch sử “đứng bên lề” ghi lại theo mỗi phân kỳ lịch sử, còn trong bia ký Champa tên gọi Campa hầu như là danh chính của nhà nước cổ này được ghi chép qua nhiều thế kỷ. Chính vì thế, cho đến nay tên gọi Champa là định danh  được nhiều nhà khoa học thừa nhận.
Tên gọi các vùng đất Champa, theo các nguồn tư liệu cho biết, Champa chia thành nhiều vùng khác nhau với các tên gọi có nguồn gốc Ấn Độ:
Châu Amaravati, Vijaya; Kauthara, Panduranga là những tên gọi có nguồn gốc xuất phát từ những vùng đất Ấn Độ, ví dụ như Amaravati (bang Andhra Pradesh).
Những tên gọi kinh đô như Simhapura, Indrapura, Vijaya, Virapura đều gắn với sự tích liên quan, ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ.
1.2. Cấu trúc xã hội
Theo tài liệu bia ký, cư dân Champa chia làm 4 nhóm:
- Ba la môn là tầng lớp tăng lữ cao quý nhất, người chăm sóc tinh thần của cộng đồng. Vua  Champa xuất thân “ là con trai của một người Balamôn xuất sắc..”,và “ không có một tội ác nào lớn hơn tội giết một vị Balamôn”1 .
- Ksatriya  là tầng lớp trên và được coi là cao quý trong xã hội Champa.
- Vaishya là tầng lớp bình dân đông đảo trong cư dân
- Shudra là tầng lớp nô lệ. Văn bia Champa nói đến việc nhà vua dâng cúng cho các vị thần được thờ ngoài đồ vật kim loại quý, còn có nô lệ phục vụ thần.
Như vậy mô hình cấu trúc cư dân Chăm cũng được phân ra theo mô hình cấu trúc tầng lớp cư dân xã hội Ấn Độ. Văn hóa Ấn Độ đã ảnh hưởng hết sức sâu sắc trong việc tổ chức cư dân Champa.  Cư dân chia thành nhiều đẳng cấp, trong đó đẳng cấp Bhama và Ksatriya là tầng lớp trên năm giữ tinh thần và tổ chức quản lý xã hội.
1.3. Danh xưng:
Tên các vị vua sáng lập các triều đại trong lịch sử Champa đều gọi theo tên Ấn Độ
Theo Bia Võ Cạnh vị vua được coi đầu tiên là CriMara. Bia Mỹ Sơn I vua là Sambhuvarman. Sau này là các vị vua: Vijayavarman; Gangaraja;  Rudravarman; Vikrantavarman; Indravarman vv... đều lấy danh xưng theo tên gọi có nguồn gốc văn hóa Ấn.
1.4. Lịch pháp
 Lịch pháp Champa sử dụng theo lịch pháp có nguồn gốc Ấn Độ.Văn bia Champa còn ghi lại năm tháng tạo dựng theo lịch Saka, lịch do vua Phật giáo Kaniska sáng lập sau năm 78 sau công nguyên.
1.5. Văn tự:
Chữ viết trên các văn bia đều lấy nguồn gốc từ văn tự Ấn Độ. Đến thế kỷ IX văn tự cổ Champa xuất hiện cũng xuất phát từ nguồn gốc văn tự Ấn Độ (Sanskrits).
1.6. Ngoài những  yếu tố trên văn bia Champa còn cung cấp thêm những kiến thức về thiên văn học, đơn vị đo lường, sự tích văn học lấy từ nguồn cảm hứng có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ.
2. Kiến trúc:
Trải qua những biến động xã hội và thiên nhiên can thiệp, cho đến nay, miền Trung còn lại một hệ thống kiến trúc tháp Champa với số lượng lớn trên 60 địa điểm trên mọi vùng khác nhau. Niên đại xây dựng kéo dài trong lịch sử. Nghiên cứu hệ thống kiến trúc tháp hiện còn cho thấy:
 Tháp Champa được dựng lên là cơ sở tôn giáo thờ các vị thần mang nội dung tôn giáo Ấn Độ. Chính vì thế, mô hình và mặt bằng kiến trúc tháp đều chuyển tải nội dung Ấn Độ giáo, biểu tượng cho núi Meru nơi ngự trị của thần linh. Trong một quần thể kiến trúc, kiến trúc trung tâm chính- điện thờ thần, bao giờ cũng cao và có quy mô lớn nhất, xung quanh là hệ thống kiến trúc phụ thấp dần. Mặt bằng kiến trúc tháp được coi có biểu tượng như hình Yony- mặt âm của thần Shiva, kiến trúc nhô cao được coi được coi là biểu tượng Linga - mặt dương của thần Shiva.  Khối của kiến trúc tháp có tỉ lệ thích hợp  với đế tháp đồ sộ vững trãi, thân khối vuông vức vươn cao, hệ thống cửa ra vào, cửa giả trang trí cân đối. Hệ thống diềm  mái phân biệt thân và nóc kiến trúc nhiều lớp nhịp nhàng. Nóc tháp gồm nhiều tầng thu nhỏ lên trên, mỗi tầng là mô hình thu nhỏ của thân tháp và kết thúc đỉnh tháp là biểu tượng Linga. Tỉ lệ các phần cân đối hài hòa tạo nên nhịp điệu kiến trúc nhịp nhàng, sang trọng. Tháp được xây dựng chủ yếu bằng gạch, kỹ thuật xây khó thấy mạch cùng chất kết dính. Trang trí tháp hoàn chỉnh từ đế tháp đến các khối kiến trúc hài hòa, chuyển tải nội dung liên quan đến các vị thần được thờ. Kỹ thuật khắc tạc điêu luyện với nhận thức thẩm mỹ cao." Tháp Chăm ở Việt nam chính là một mô hình thu nhỏ về kiểu dáng của các ngôi đền ở phía Nam Ấn Độ...Chúng giống nhau đến nỗi dường như bí quyết về kỹ thuật chế tạo gạch và nghệ thuật xây gạch dính sát với nhau ở Việt Nam đã được nhập khẩu từ Ấn Độ"1
.
3. Điêu khắc.
Cho đến nay hàng nghìn tác phẩm điêu khắc Champa được phát hiện, tiêu biểu cho các giai đoạn nghệ thuật điêu khắc Champa trong các thời kỳ khác nhau có mặt trong các bảo tàng lớn trong và ngoài nước, tiêu biểu là Bảo tàng điêu khắc đá Champa (Đà Nẵng).
Nội dung các tác phẩm điêu khắc này đều mang nội dung tôn giáo và văn hóa Ấn Độ. Trước hết là hệ thống bệ thờ được chế tác thờ trong lòng các tháp. Linh vật thờ chủ yếu là biểu tượng của thần Shiva - một trong ba vị thần chính của Ấn Độ giáo.  Biểu tượng này xuyên xuốt nội dung thờ trong văn hóa Champa. Có thể lấy hai tác phẩm sớm và muộn nhất trong các tháp thờ Champa. Bệ thờ Mỹ Sơn E1 vào thế kỷ VII. Trang trí bệ thờ là các hình ảnh tu luyện của các tu sĩ theo giáo lý tôn giáo. Biểu tượng thờ là Linga. Bệ thờ tháp Porome thế kỷ XVII vật thờ là Yony - Linga có tạc Mukhalinga.
Hệ thống thần linh trong Ấn Độ giáo đều được thể hiện trong các tác phẩm điêu khắc với 3 vị thần chính: Shiva- Visnu- Bhrama.
Thần Bhrama
Ngoài 3 vị thần chính còn có cả hệ thống thần linh như thần Inđra (thần Sấm sét); thần Surya (thần mặt trời); thần lửa (Agnhi), thần gió (Vayu),thần biển (Varuna); thần mặt trăng (Soma); thần Rừng (Yaksa); thần chết hay Diêm vương (Yama); thần Tài Lộc (Kubera); các vị thần phương hướng (Lokapara); thần thời gian (KaLa); thần thần chiến tranh (Skanda); thần bảo vệ (Drapalla); thiên thần vũ nữ (Appsara); nữ thần may mắn (Laksmi);nữ thần nghệ thuật (Sarasvati); nữ thần Bhagavati; nữ thần Durga hay Quỷ vương Ravana trên các Ty pam tháp Mỹ Sơn F3
Bên cạnh đó là hình ảnh các vị thần vật linh như Ganesa, Nam din, Ham sa, thần Rắn (Naga), hầu vương Haruman, rắn Seka, Gajasimha( voi - sư tử), tượng voi, tượng sư tử vv... đều chuyển tải nội dung tôn giáo Ấn Độ phù hợp với nhận thức của người dân. Đặc biệt một số tác phẩm điêu khắc còn thể hiện những nội dung theo tinh thần sử thi văn hóa Ấn như cuộc thi tài bắn cung của hoàng tử Rama trên bệ Trà Kiệu, hay sự tích Hầu Vương Haruman cứu Sita chân tháp Khương Mỹ, cuộc thi tài của thần Shiava với quỷ vương Ravana điệu múa  thiêng Shiva trên các bức Typam Mỹ Sơn C1, Ponaga, Lương Hậu vv...
Như vậy có thể thấy, toàn bộ nội dung các tác phẩm điêu khắc Champa đều chuyển tải nội dung văn hóa Ấn Độ vào cộng đồng cư dân trong lịch sử. Đó là hằng số văn hóa xuyên xuốt trong toàn bộ tiến trình văn hóa Champa.
4. Một số nguồn tư liệu khác.
 Cùng với  những dòng chảy chủ yếu mang nội dung văn hóa Ấn Độ nêu trên, nhiều tư liệu vật chất và tinh thần của người Chăm còn mang đậm những dấu ấn từ văn hóa Ấn Độ.
Đồ gốm những bình gốm (Kendi) có mặt trong suốt tiến trình nghề sản xuất gốm Champa cũng được coi là bằng chứng ảnh hưởng từ nghề sản xuất gốm Ấn Độ. Bên cạnh đó các phong tục tập quán trong tang lễ (hỏa táng), cưới xin, hay văn học, nghệ thuật Champa đều có dấu ấn của nền văn minh đồ sộ từ Ấn Độ chuyển qua được người Chăm tiếp thu làm phong phú thêm đời sống vật chất tinh thần của người dân theo xuốt chiều dài lịch sử.
Điểm qua nguồn tư liệu hiện biết, có thể thấy tinh thần cùng văn hóa Ấn Độ là hằng số xuyên xuốt tạo nên giá trị  vật chất, tinh thần văn hóa Champa đóng góp làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc.
Sự hiện diện của người Chăm cùng lịch sử và văn hoá từ quá khứ cho đến ngày nay luôn là một bộ phận khăng khít trên phần đất bán đảo Đông Dương, trong lãnh thổ Việt Nam đa dân tộc. Cư trú trên địa bàn không gian mở, từ cội nguồn văn hoá truyền thống được xây dựng, người Chăm đã tiếp xúc và tiếp thu văn hóa Ấn Độ đa chiều xuyên xuốt theo chiều dài lịch sử. Hội tụ chắt lọc, người Chăm đã tạo nên một nền văn hoá rực rỡ  thấm đậm tinh thần tôn giáo văn hóa Ấn Độ và trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể văn hóa dân tộc Việt Nam cho đến ngày nay. Đó là tiền đề quan trọng để hai dân tộc Việt - Ấn song hành cùng đi tới tương lại./.



[1] Lương Ninh : Vài nét về Văn bia Champa. NPHMVKCH. Hà Nội 1985; tr 247- 249
[2] Geetesh. Sharma: Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam. Nhà xuất bản văn hóa văn nghệ TP Hồ Chí Minh. 2012
[3] Nội dung bia Mỹ Sơn III
1 Bia Mỹ Sơn III
1 Geetesh. Sharma: Những dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam. Nhà xuất bản văn hóa văn nghệ TP Hồ Chí Minh. 2012
 

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

Chuyện gẫu: HÌNH NHƯ....
               Hình như... mùa đông này nóng ấm. Cái lạnh tê tê của mùa đông giá ít đi. Quy luật 4 mùa:xuân - hạ - thu - đông hình như bị phá vỡ. Trời xanh và cao hơn, những tiếng kêu Trời ơi... vọng lên xa thẳm, vô vọng....
Hình như.... nước sông dần vơi cạn, dòng nước thanh mát dần chuyển sang màu xanh đen ám ảnh, xóa nhòa dần ký ức kỷ niệm của tuổi thơ...
Hình như... những giá trị cuộc sống dần mai một. Những thước đo tình cảm truyền thống bị lãng quên vì những quyền lợi trước mắt nhỏ nhoi. Anh chị em ruột thịt " khúc ruột trên, khúc ruột dưới" từ mặt đánh ghét nhau vì mảnh đất hương hỏa hay mấy đồng bạc của người thân để lại. Cộng đồng làng xóm " tối lửa tắt đèn có nhau" bị phá vỡ bởi một lối đi hay tranh chấp rặng rào. Những bạn bè, đồng đội cùng nhau sinh tử bị chia xẻ bởi đồng tiền bát gạo.....
Hình như .... hình như...
Hình như... lịch sử bị quên lãng... để không nhớ về cội nguồn gia đình, dòng họ, quê hương và cao hơn là Tổ Quốc
Người ta hay nói những cái xấu đó là mặt trái của kinh tế thị trường, nhưng kinh tế thị trường đâu phải chỉ bây giờ mới có. Gia đình - dòng họ - quê hương -Tổ Quốc mạch sống của mỗi con người... hình như cũng bị lãng quên....


Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015



PHẾ TÍCH THÁP TRÀ SƠN
(DUY XUYÊN - QUẢNG NAM)
                                                                                  
Phế tích tháp Trà Sơn nằm trên vùng đất cao phẳng thuộc địa bàn xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên (Quảng Nam), cách thành Trà Kiệu khoảng 1,2km về hướng Đông - Bắc. Do những biến động của lịch sử, tháp bị dỡ bỏ, trên địa điểm tháp xưa người dân dựng nên ngôi chùa thờ Phật. Phía sau chùa là dấu tích còn lại của ngọn tháp xưa.
  Dấu tích tháp để lại là gò gạch cao từ 1,2m - 1,5m.Mỗi cạnh dài khoảng 12m xoải dần từ đỉnh ra xung quanh tạo nên hình tròn đều. Bề mặt trên cùng khá phẳng,  mọc đầy cỏ dại. Hiện vật để lại gồm có thành phần kiến trúc đá liên quan đến ngôi tháp gồm: các thanh đá bậc cửa ra vào, cột cửa, đế chân tảng và các bộ phận kiến trúc khác. Các thành phần kiến trúc này, khi xây dựng chùa được tận dụng làm ghế ngồi.
Cấu kiện kiến trúc đá
Stt
Dài (cm)
Rộng (cm)
Dày (cm)
Ghi chú
1
180
31
19
Ở hai đầu của phiến đá có hai lỗ mọng có kích thước 15cm x 16,5cm sâu 12cm
2
130
30
18

3
50
38
21
  một cạnh của tảng đá có lỗ mộng có kích thước 17cm x 17cm sâu 14cm
4
107
52
9
Đá dài hình chữ nhật
5
56
30
16
Đá dài hình chữ nhật
6
103
30
22
Đá dài hình chữ nhật
7
106
52
10
Đá dài hình chữ nhật
8
108
28
20
Đá dài hình chữ nhật
9
180
32
14
Đá dài hình chữ nhật
10
166
36
19
Đá dài hình chữ nhật
11
176
20
?
Đá dài hình chữ nhật

Đá kê chân cột
Stt
Dài (cm)
Rộng
dày
Ghi chú
1
65
65
30
Đá kê chân cột ở giữa của tảng đá co đục một lỗ hình vuông có kích thước 29cm x 29cm x 24cm
2
65
65
28
Đá kê chân cột ở giữa của tảng đá co đục một lỗ hình vuông có kích thước 29cm x 29cm x 23cm
3
60
60
35
Đá kê chân cột ở giữa của tảng đá có đục một lỗ hình vuông có kích thước 18cm x 19cm x 12cm
4
60
60
34
Đá kê chân cột ở giữa của tảng đá có đục một lỗ hình vuông có kích thước 18cm x 18cm x 13cm
Đá được sử dụng là đá Silics hạt mịn, màu xám nhạt, vật liệu thường được sử dụng trong các công trình kiến trúc Champa
Mặc dù bị dỡ bỏ,  nhưng vật liệu gạch xây dựng của tháp còn lại nhiều chất thành gò. tại đây còn một số viên gạch được khắc tạc hoa văn trang trí. Dựa vào họa tiết thể hiện trên gạch cho thấy đây là những việc gạch được khắc tạc trang trí bên ngoài kiến trúc tháp.
Bảng thống kê kích thước gạch một số viên gạch có hoa văn
Stt
Dài (cm)
Rộng (cm)
Dày (cm)
Ghi chú
1
19.5
16,5
7,8
Một cạnh của viên gạch được trang trí hoa văn
2
15,5
14,5
6,3
Một cạnh của viên gạch được trang trí hoa văn
3
23
19
6
Một cạnh của viên gạch được trang trí hoa văn
4
14
11
8
Một cạnh của viên gạch được trang trí hoa văn
5
26
16
7,2
Một cạnh của viên gạch được trang trí hoa văn
6
18
18
8
Một cạnh của viên gạch được trang trí hoa văn
7
21
18
8
Viên gạch góc được trang trí hoa văn ở hai cạnh của viên gạch
Một số nhận xét:
Theo nhân dân địa phương kể lại, trước năm 1975, địa điểm tháp Trà Sơn có 5 kiến trúc, trong đó kiến trúc trung tâm là lớn nhất, hiện còn dấu tích. Tháp bị dỡ bỏ sau năm 1975 lấy vật liệu xây dựng các công trình kiến trúc khác. Ngoài dấu tích còn lại, dựa vào vật liệu kiến trúc trên hiện trường cho thấy:
- Dấu tích để lại là phần thân và đế tháp trước đây. Với kiến trúc hiện còn cho thấy đây là một kiến trúc có quy mô lớn, được xây dựng với sự tham gia của gạch và đá, những vật liệu bền vững. Đá có kích thước lớn, được tạo tác thành những bộ phận kiến trúc như  thềm bậc lên xuống, đế cột, cột cửa.  mi cửa giả vv...Những viên gạch được khắc tạc hoa văn hình lá uốn cho thấy đây là viên gạch được xây trang trí trên thành phần cột góc, cột thân và diềm mái tháp.
- Dựa vào sự có mặt của vật liệu đá trong kiến trúc, hoa văn trang trí trên gạch, bước đầu cho thấy niên đại của tháp được xây dựng vào thế kỷ IX - X. Kiến trúc nằm cách thành Trà Kiệu kinh đô không xa, trong hệ thống chung của di tích Champa trên một địa bàn vùng đất cổ của người Chăm quản lý. Chắc hẳn tháp có vai trò quan trọng trong đời sống cư dân vùng đất, cần có kế hoạch bảo vệ, khai quật trong tương lai, góp thêm những tư liệu quý tìm về thành tựu văn hóa Champa trong một thời kỳ lịch sử./.